- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H. Xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/10/2025 “V/v kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Quang Lương
2. Bà Hoàng Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 05 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2025/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H; sinh ngày 16 tháng 5 năm 1997.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày: 25/3/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi đăng ký HKTT tại: Tổ dân phố 01, xã H, tỉnh Quảng Trị. Chị H có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn S; sinh ngày 28 tháng 7 năm 1994.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày: 19/6/2024; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi đăng ký HKTT tại: Tổ dân phố 01, xã H, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/7/2025 và nội dung được bổ sung tại bản tự khai và tại phiên tòa, chị Hồ Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 15 tháng 6 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41, quyền số: 01/2015. Chị H và anh S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian cho đến khoảng năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cách sống của mỗi người khác nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù vợ chồng đã nhiều cố gắng tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình, nuôi dạy con tốt nhưng vợ chồng vẫn không giải quyết được, mâu thuẫn ngày tăng lên. Nay chị H mong muốn Toà án cho chị H ly hôn với anh Hoàng Văn S.
- Về quan hệ con chung: Chị Hồ Thị H trình bày quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là: Cháu Hoàng Thảo L, sinh ngày 27/10/2014. Hiện nay con chung đang ở cùng anh S. Chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn giao con chung là cháu Hoàng Thảo L cho anh Hoàng Văn S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H đề nghị không ai đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị H trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Ý kiến của anh Hoàng Văn S tại Bản tự khai đề ngày 25/7/2025 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh S đồng ý như ý kiến trình bày của chị H về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vì hoàn cảnh kinh tế hai vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa, vợ chồng không ở gần nhau, tình cảm lạnh nhạt, không có sự yêu thương chăm sóc, việc ai nấy làm. Dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính tình không hợp nhau. Vợ chồng hiện nay đã ly thân. Nay anh S cũng thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân đạt được, không thể giải quyết mâu thuẫn được nữa nên anh S cũng đồng ý thuận tình ly hôn với chị Hồ Thị H.
- Về quan hệ con chung: Anh Hoàng Văn S thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung là: Hoàng Thảo L, sinh ngày 27/10/2014. Hiện nay con chung đang ở cùng anh S. Anh S nhất trí đồng ý sau khi ly hôn giao con chung là cháu Hoàng Thảo L cho anh S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và không ai đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
- Về tài sản chung nợ chung: Anh S trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 25/7/2025, Tòa án nhận được đơn của chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S đề nghị Tòa án không tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Do vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; là nơi bị đơn anh Hoàng Văn S có đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Tổ dân phố 01, xã H, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị.
Về sự có mặt của các đương sự: Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Nguyên đơn và Bị đơn đều đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án. Chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S đã trực tiếp đến Tòa án làm bản tự khai. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn S có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp hoà giải và đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn (anh Hoàng Văn S) theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Hoài và anh Hoàng Văn S có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 15 tháng 6 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41, quyền số: 01/2015. Việc kết hôn của anh, chị trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cấp có thẩm quyền. Vì vậy, hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Anh chị đã có thời gian khá dài chung sống hạnh phúc, lẽ ra anh chị phải biết thương yêu, nhường nhịn, tôn trọng, tin tưởng nhau cùng nhau chia sẻ khó khăn xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng ngược lại anh, chị không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững, cuộc sống chung vợ chồng trong nhiều năm gần đây luôn xảy ra mâu thuẫn, bất đồng.
Tại bản tự khai do chị H và anh S gửi đến Tòa án thì anh, chị đều thống nhất thừa nhận nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cách sống của mỗi người khác nhau. Vì hoàn cảnh kinh tế vợ chồng phải đi làm ăn xa thường xuyên, vợ chồng không ở gần nhau, tình cảm lạnh nhạt, không có sự yêu thương chăm sóc, việc ai nấy làm. Dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng hiện nay đã ly thân. Mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù vợ chồng đã nhiều cố gắng tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình, nuôi dạy con tốt nhưng vợ chồng vẫn không giải quyết được, mâu thuẫn ngày tăng lên. Do đó, tại các bản tự khai, chị H và anh S đều nhất trí thuận tình ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn.
Từ phân tích, đánh giá, nhận định toàn diện những trình bày của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng điều đó thể hiện mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị H và anh S đã quá trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn S là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Theo các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án ghi nhận, quá trình chung sống vợ chồng giữa chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S có 01 (một) con chung là: Hoàng Thảo L, sinh ngày 27/10/2014. Hiện nay con chung đang ở cùng anh S. Chị H và anh S đều có nguyện vọng sau khi ly hôn giao con chung là cháu Hoàng Thảo L cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ thực tế việc nuôi dưỡng con chung như hiện nay, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị H và anh S về việc sau khi ly hôn giao con chung là cháu Hoàng Thảo L cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, phù hợp với nguyện vọng của con trên 07 tuổi và phù hợp quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S có đơn trình bày về việc không ai đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quan hệ tài sản và nợ chung: Chị Hồ Thị H và anh Hoàng Văn S đều không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị H phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H. Xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn S.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thảo L, sinh ngày 27/10/2014 cho anh S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sau ly hôn cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế.
Không ai đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
Không ai có quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trong trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và mức cấp dưỡng đối với con chung theo quy định.
3. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Số tiền chị Hồ Thị H phải nộp được khấu trừ từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên lai số 0005594 ngày 24 tháng 7 năm 2025. Chị H đã nộp đủ.
Án xử công khai, báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/9/2025); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND KV1; - TAND Tỉnh Quảng Trị; - Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự (………………); - Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Quảng Trị) - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Phú Quảng |