vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích N:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Bích N ly hôn với anh Đỗ Xuân Bằng. Về con chung: Giao con chung Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017, cho chị Trần Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung thành niên và có khả năng lao động, trườ trường hợp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích N:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 7 - 2025
V/v ly hôn và tranh chấp về con
chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh.

Ông Doãn Văn Sáng

- Thư ký phiên toà:Ông Nguyễn Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 228/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đỗ Xuân Bằng, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố 02 (K), phường T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, chị Trần Thị Bích N, vắng mặt tại phiên toà, song tại đơn khởi kiện và Bản tự khai cùng các lời khai tại Tòa án, chị Trần Thị Bích N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Xuân Bđăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 3 năm 2013 tại UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn chị N và anh Bvề sinh sống tại ngôi nhà của bố mẹ chị N tại tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng). Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc, sau đó từ khoảng năm 2017 đến nay luôn xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan niệm sống, cách nhìn nhận mọi vấn đề không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, to tiếng, thậm chí có lúc xảy ra xô xát. Hai bên đã nhiều lần cố gắng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không kiềm chế được cảm xúc khi chung sống, con cái thường xuyên phải chứng kiến cảnh bố mẹ xúc phạm nhau. Trong khoảng 3 năm gần đây do mâu thuẫn kéo dài nên năm nào cũng viết đơn ly hôn yêu cầu tòa giải quyết tuy nhiên lần nào anh Đỗ Xuân Bcũng gây khó khăn, cản trở làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của mẹ con chị do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay để giải phóng cho nhau chị N đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Xuân Bđể chị cùng các con ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Bsinh được 02 con chung tên Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017. Quá trình chung sống do đặc điểm nghề nghiệp, anh Blàm thuyền viên (tàu biển) thường xuyên vắng mặt nhà nửa năm, đến hàng năm mới về nhà, hai con kể từ khi sinh ra đều do chị N nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn 02 con chung là con gái đang ở độ tuổi dạy thì cần có sự chỉ bảo, chăm sóc của mẹ nên chị N có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh Btự thoả thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Toà án.

Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị N trình bày vợ chồng không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Xuân Bằng, vắng mặt tại phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Xuân Btrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, anh Bthương yêu vợ con cũng không nghiện ngập, rượu chè, cờ bạc, chịu khó làm ăn, không đánh chửi vợ con. Trong thời gian gần đây chị N có mối quan hệ với người đàn ông khác, lạnh nhạt với chồng con, đi sớm về khuya. Mặc dù anh đã khuyên bảo vì thương con anh Bbỏ qua tất cả muốn giữ cho con có tình thương của bố mẹ, không muốn cho con bị tổn thương nhưng chị N quyết tâm ly hôn, anh Bthương con nên không đồng ý ly hôn mong muốn Toà án xem xét giúp đỡ để cho các con có cả bố mà mẹ mong muốn vợ chồng cho nhau cơ hội để có thời gian suy nghĩa về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung. Nhưng nếu chị N cố tình đề nghị Toà án giải quyết ly hôn là do chị N tự quyết định, anh Bkhông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh B trình bày, vợ chồng có 02 con chung Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017, kể từ thời gian gần đây ly thân 02 con chung hiện nay đang ăn ở cùng anh Btại tổ dân phố 02 (K), phường T, thành phố Hải Phòng. Anh Bkhông đồng ý ly hôn nhưng nếu phải ly hôn theo yêu cầu của chị N thì nguyện vọng của anh Blà mỗi người nuôi 01 con chung (con lớn, con bé) anh Bđều đồng ý cụ thể anh Bcó nguyện vọng được nuôi con chung tên Đỗ Thảo L.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh Đỗ Xuân Bvà chị Trần Thị Bích N tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đỗ Xuân Btrình bày khi đi làm tiền bạc, kinh tế bao năm nay đều đưa cho chị N, chị N đều nói đã ăn tiêu hết. Nay quan điểm của anh Bvề tài sản để vợ chồng tự thoả thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Bích N và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Bích N được ly hôn anh Đỗ Xuân Bằng.

Về con chung: Giao con chung Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017, cho chị Trần Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung thành niên và có khả năng lao động, trườ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân Bthống nhất để hai bên tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung

Chị Trần Thị Bích N trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Đỗ Xuân Btrình bày về tài sản chung để hai bên tự thoả thuận giải quyết không yêu cầu Toà án. Do vậy Kiểm sát viên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Bích N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết

Chị Trần Thị Bích N có đơn xin ly hôn với anh Đỗ Xuân Bằng. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đỗ Xuân Bhiện đang cư trú tại tổ dân phố 2 (K), phường T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự

Nguyên đơn chị Trần Thị Bích N vắng mặt tại phiên tòa, song có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đỗ Xuân B đã được Toà án tống đạt hợp lệ song vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

Căn cứ khoản 2 Điều 227, 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặtcác đương sự.

Về quan hệ hôn nhân

Xét, quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân Bkết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là phường H, thành phố Hải Phòng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2013, quyển số 01, ngày 26 tháng 3 năm 2013 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh thể hiện: Chị N và anh Btrong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng nhau, nghi ngờ nhau về lòng chung thuỷ trong hôn nhân. Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài nhiều năm nay thời gian gần đây đã căng thẳng và đã sống ly thân mỗi người một nơi. Chị N đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bằng, bị đơn anh Bkhông đồng ý ly hôn vì mong muốn vợ chồng cho nhau cơ hội để có thời gian suy nghĩ về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung. Nhưng nếu chị N cố tình đề nghị Toà án giải quyết ly hôn là do chị N tự quyết định. Hôi đồng xét xử, xét giữa vợ và chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ khó khăn cũng như thuận lợi trong cuộc sống và tin tưởng nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy các con tuy nhiên, thực tế do mâu thuẫn nên chị N và anh Btrong cuộc sống hôn nhân lại không có niềm tin với nhau điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân Bđã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích N, cho chị Trần Thị Bích N được ly hôn anh Đỗ Xuân B.

Về con chung

Chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân B trong quá trình chung sống có sinh được 02 con chung được đăng ký khai sinh hợp pháp tên: Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017. Hiện nay cả hai con chung đang sống cùng chị N khi ly hôn chị N đề nghị được tiếp tục nuôi cả hai con chung. Bị đơn, anh Đỗ Xuân B không đồng ý ly hôn nhưng nếu chị N quyết tâm ly hôn nguyện vọng của anh B là được nuôi con chung tên Đỗ Thảo L. Hội đồng xét xử, xét: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, chị N và anh Bđều có nguyện vọng được nuôi con chung, tuy nhiên giao con chung cho bố hoặc mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc cần xem xét mọi mặt để đảm bảo cho con chung được học tập, phát triển khoẻ mạnh. Xét, điều kiện nuôi con chung của chị N và anh Blà như nhau, tuy nhiên do tính chất công việc của anh B nghề nghiệp tàu biển (thuyền viên) thường xuyên vắng mặt tại nhà, hai con chung là con gái đang ở độ tuổi dạy thì cần đến sự chăm sóc, chỉ bảo của mẹ. Mặt khác hai con chung trên 7 tuổi đều có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Do vậy, để ổn định đời sống của con chung, để đảm bảo nghĩa vụ, quyền lợi của cha mẹ đối với con cái, Hội đồng xét xử quyết định giao cả hai con chung cho chị Trần Thị Bích N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân Bthống nhất thoả thuận để hai bên tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung

Chị Trần Thị Bích N trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Đỗ Xuân B trình bày về tài sản chung để hai bên tự thoả thuận giải quyết không yêu cầu Toà án. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Bích N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích N:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Bích N ly hôn với anh Đỗ Xuân Bằng.

2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Thảo L, sinh ngày 01/01/2015; Đỗ N Anh, sinh ngày 18/9/2017, cho chị Trần Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung thành niên và có khả năng lao động, trườ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm, nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích N và anh Đỗ Xuân Bthống nhất để hai bên tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết.

3. Về tài sản chung

Chị Trần Thị Bích N trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Đỗ Xuân Btrình bày về tài sản chung để hai bên tự thoả thuận giải quyết không yêu cầu Toà án. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Bích N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng, tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010788, ngày 05/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay thành Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 1 – Hải Phòng). Chị Trần Thị Bích N đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Trần Thị Bích N và bị đơn anh Đỗ Xuân Bvắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ