vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Châu P. Xử cho bà Nguyễn Thị H ly hôn đối với ông Huỳnh Châu P.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/01/2015 cho ông P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu A đang sống cùng ông P. Bà H không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hạnh- Huỳnh Châu Phú"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Châu P. Xử cho bà Nguyễn Thị H ly hôn đối với ông Huỳnh Châu P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-04-2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Sáu

2. Bà Trương Thị Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Huỳnh Châu P, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có đơn yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 01 năm 2025 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Bà H và ông Huỳnh Châu P xây dựng hôn nhân năm 2014, đến năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 31/12/2015, theo giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01. Sau khi cưới, bà H và ông P sống ở ấp N, xã X, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng ý kiến, ông P làm có tiền không có đưa cho bà H. Do đó, đến tháng 7/2023 bà H và ông P đã ly thân đến nay và từ thời gian đó, ông P về quê ở ấp H, xã H, huyện V sinh sống cho đến nay. Bà H và ông P đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không thành. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà H và ông P sống với nhau có 01 người con chung là Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/01/2015, hiện nay cháu A đang sống chung với ông P. Khi ly hôn, bà H tôn trọng nguyện vọng của cháu A, nếu cháu A theo bà H thì bà H đồng ý nuôi và không yêu cầu ông P1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn Huỳnh Châu P trình bày tại biên bản ấy lời khai ngày 06 tháng 3 năm 2025 ông P thống nhất lời trình bày của bà H về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2022 ông P bị tai nạn té từ trên cao xuống do đi làm hồ, sau đó ông P không tự đi đứng được. Bà H bỏ mặc ông P, không chăm sóc ông P và đến năm 2023 bà H đi làm xa, không rõ đi đâu, làm gì, đến năm 2024 bà H có về thăm con 01 lần cho đến nay. Vì vậy, ông P đã về quê ở H, xã H, huyện V sinh sống hơn 01 năm nay. Do ông không làm gì có lỗi với bà H nên ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu bà H. Trường hợp theo quy định pháp luật có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, ông P cũng không có ý kiến. Hiện ông P không lao động được, hàng tháng lãnh trợ cấp xã hội 1.500.000 đồng/tháng và các con riêng của ông có phụ thêm. Trương hợp có căn cứ chấp nhận ly hôn theo yêu cầu bà H, ông P yêu cầu được nuôi cháu A và không yêu cầu bà H cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Châu P. Về con chung: Đề nghị hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/01/2015 cho ông P tiếp tục nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 23 tháng 10 năm 2025, bà H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn đối với ông Huỳnh Châu P đăng ký thường trú tại ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, ông P và bà H đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt ông P và bà H theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Bà H và ông P bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2014 và đến năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 31/12/2015, theo giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01, nên hôn nhân giữa bà H và ông P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

. Theo bà H xác định quá trình chung sống, bà H và ông P thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn này đã trầm trọng và không có biện pháp gì hàn gắn. Bà H và ông P đã ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông P.

. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa bà H và ông P không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, bà H và ông P đã ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Bà H không còn tình cảm với bà T; bản thân ông P không đồng ý ly hôn theo yêu cầu bà H nhưng chính ông P cũng thừa nhận, quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, khi ông P bị tai nạn bà H bỏ mặt, không chăm sóc ông P từ đó cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông P.

. Về con chung: Bà H và ông P chung sống với nhau có 01 người con chung, cháu Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/01/2015, hiện nay cháu A đang sống chung với ông P. Cả H và ông P đều yêu cầu Tòa án xem xét nguyện vọng của cháu A, nếu cháu đồng ý sống với ông P hoặc bà H thì bà H và ông P đồng ý và không yêu cầu cấp dưỡng.

Qua xem xét nguyện vọng cháu A, cháu có nguyện vọng sống với ông P và không yêu cầu bà H cấp dưỡng. Trên cơ sở xem xét nguyện vọng cháu A, ý chí của ông P và bà H, nhầm để đảm bảo sự ổn định ăn ở, học hành, sinh hoạt của cháu A cần tiếp tục giao cháu A cho ông P tiếp tục nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục. Bà H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Phía ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông P xác định, quá trình chung sống không có tạo lập tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Bà H phải chịu 300.000 đồng, bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004594 ngày 11 tháng 02 năm 2025 được chuyển thu án phí.

. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Châu P. Xử cho bà Nguyễn Thị H ly hôn đối với ông Huỳnh Châu P.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/01/2015 cho ông P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu A đang sống cùng ông P.

Bà H không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông P xác định không có tài sản chung và không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Bà H phải chịu 300.000 đồng, bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004594 ngày 11 tháng 02 năm 2025 được chuyển thu án phí

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ