vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T. Về quan hệ con chung: Giao các con chung là cháu Lưu Phương L, sinh ngày 22/8/2015 và Lưu Xuân Hà T1, sinh ngày 30/5/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 4 năm 2025 cho đến khi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ H - LƯU XUÂN T TRANH CHẤP "LY HÔN, NUÔI CON""
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25/4/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn. 2. Ông Trần Đức Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Loan - Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn Y, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Lưu Xuân T, sinh năm 1992; nơi ĐKNKTT: Thôn Y, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N; vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Lưu Xuân T trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam vào ngày 03/4/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày nên dẫn đến mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn anh anh T.

Quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 03/4/2025 bị đơn anh Lưu Xuân T cũng trình bày như chị H về điều kiện, thủ tục đăng ký kết hôn và thời điểm vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do không tìm được tiếng nói chung trong làm ăn kinh tế cũng như sinh hoạt hàng ngày dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị H xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Vợ chồng có hai con chung là cháu Lưu Phương L, sinh ngày 22/8/2015 và cháu Lưu Xuân Hà T1, sinh ngày 30/5/2019. Khi ly hôn chị H xin nuôi hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, còn anh T có nguyện vọng xin nuôi cả hai con chung.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H; áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS; áp dụng Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T. Giao các cháu Lưu Phương L, sinh ngày 22/8/2015 và Lưu Xuân Hà T1, sinh ngày 30/5/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 4 năm 2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H, anh Lưu Văn T2 mỗi người phải nộp 75.000 đồng. Chị H được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THA dân sự thị xã D.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T, tuy nhiên chị H, anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt; HĐXX căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn vào ngày 03/4/2015 tại UBND xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm với nhau, từ đó dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Nay chị H xin ly hôn và anh T đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã tồn tại trong một thời gian mà không được cải thiện, vợ chồng sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

Về quan hệ con chung: Xét về điều kiện thực tế, nhận thấy mặc dù anh T có nguyện vọng được nuôi con chung nhưng hiện tại anh T đang phải chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Lưu Phương L có nguyện vọng ở với chị H, vì vậy cần giao hai cháu Lưu Phương L, sinh ngày 22/8/2015 và Lưu Xuân Hà T1, sinh ngày 30/5/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Sau này anh T chấp hành hình phạt tù trở về muốn thay đổi việc nuôi con thì anh T có quyền khởi kiện vụ việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng các điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T.

2. Về quan hệ con chung: Giao các con chung là cháu Lưu Phương L, sinh ngày 22/8/2015 và Lưu Xuân Hà T1, sinh ngày 30/5/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 4 năm 2025 cho đến khi các cháu L, T1 đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Các bên được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị H và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị H và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Xuân T mỗi người phải chịu 75.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai số 0001582 ngày 26/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ khi thi hành án. Trả lại chị Nguyễn Thị H số tiền 225.000 đồng.

Báo cho chị Nguyễn Thị H, anh Lưu Xuân T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ