- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Cẩm N. Cho chị Tô Cẩm N được ly hôn với anh Nguyễn Minh D. 2.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 - 03 – 2025 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Đoàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hoàng
2. Ông Nguyễn Xuân Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phú Thanh Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Dựa – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 560/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Cẩm N, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Tô Cẩm N trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh D xây dựng hôn nhân năm 2005 có tổ chức lể cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vợ chồng chị có 03 con chung là Tô Thị Cẩm T, sinh ngày 20/01/2006, Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 25/05/2019. Hiện các cháu đang sống với chị.
Trong thời gian chung sống vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính tình, anh D thường xuyên nhậu nhẹt với bạn bè, không chăm lo cho gia đình. Vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, C đã nhiều lần khuyên nhưng anh D không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Giữa chị và anh D không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
Về con chung: Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Đăng H và Nguyễn Đăng K, không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Cháu Tô Thị Cẩm T đã trưởng thành nên không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Chị Tô Cẩm N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Anh Nguyễn Minh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Ý kiến của kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các quyết định nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tô Cẩm N; Con chung, giao cho chị N nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Đăng K, không yêu cầu cấp Dưỡng, cháu Tô Thị Cẩm T đã trưởng thành khỏe mạnh nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh D có địa chỉ thường trú tại ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải. Nguyên đơn chị Tô Cẩm N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Tô Cẩm N và anh Nguyễn Minh D. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Cẩm N và anh Nguyễn Minh D có đăng ký kết hôn tại UBND xã L theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị N và anh D là tự nguyện và hợp pháp. Chị N xác định hiện nay hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm lẫn nhau và đã không còn yêu thương nhau. Thực tế chị N và anh D đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị N và anh D không có biện pháp nào để hàn gắn hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Minh D để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị Tô Cẩm N và anh Nguyễn Minh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Cẩm N đối với anh Nguyễn Minh D. [3] Về con chung: Chị Tô Cẩm N xác định chị và anh D có 03 con chung là Tô Thị Cẩm T, sinh năm 2006, đã trưởng thành; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/5/2009 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 25/5/2019. Chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và cháu K, không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Hơn nữa cháu K cũng có nguyện vọng ở với chị N (BL 25). [4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh D không có nên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. [5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Tô Cẩm N phải chịu án phí sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. [6] Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Cẩm N. Cho chị Tô Cẩm N được ly hôn với anh Nguyễn Minh D. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/5/2009 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 25/5/2019 cho chị T1 Cẩm Nhung tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Minh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Chị Tô Cẩm N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh D không có nên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. 3. Về án phí: Chị Tô Cẩm N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Chị N đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010801 ngày 25/11/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN Thạch Đoàn |