vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quang H.

Về hôn nhân: Cho ông Phạm Quang H được ly hôn với bà Thạch Thị Sóc K. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 cho bà Thạch Thị Sóc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; cũng phù hợp theo nguyện vọng của cháu Huy H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cho ông Phạm Quang H được ly hôn với bà Thạch Thị Sóc K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 17 - 4 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Thanh Xuân

Ông Thạch Ân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ông Phạm Quang H, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

- Bị đơn:

Bà Thạch Thị Sóc K, sinh năm 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn ông Phạm Quang H thể hiện như sau: Ông với bà Thạch Thị Sóc K chung sống với nhau vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh ngày 30/01/2012. Sau khi kết hôn ông và bà Sóc K chung sống và làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh cho đến năm 2021 thì ly thân cho đến nay. Trong thời gian chung sống thỉnh thoảng có về quê mẹ ruột của vợ chơi, hoàn toàn không có về quê ông ở Quảng Bình nên việc mâu thuẫn của vợ chồng ông cha mẹ không hay biết. Việc vợ chồng ông mâu thuẫn cũng không có báo chính quyền địa phương; vợ chồng mâu thuẫn vợ có nói với mẹ vợ biết, mẹ vợ cũng có khuyên vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 hiện do bà K đang nuôi dưỡng.

Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc xin ly hôn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau hay cự cái chuyện gia đình, vợ chồng không còn quan tâm nhau nên chung sống không hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Từ khi không còn chung sống với nhau đến nay cũng không có liên lạc với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Thạch Thị Sóc K.

Về nuôi con chung: Ông thống nhất giao con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 cho bà Thạch Thị Sóc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Thạch Thị Sóc K là bị đơn vắng mặt: Bà Sóc K không có ý kiến trả lời bằng văn bản. Mặc dù, bà Sóc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Phạm Huy H1 có ý kiến: Cháu Huy H1 là con của ông H và bà Sóc K. Nay cha mẹ ly hôn Huy Hoàng có nguyện vọng sống với mẹ là bà Sóc K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Ông H và bà Sóc K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, ông H và bà Sóc K bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cự cãi, hôn nhân không thể hàn gắn. Nay ông H kiên quyết yêu cầu được ly hôn với bà Sóc K; còn bà Sóc K mặc dù Tòa án đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Sóc K vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai hay chứng cứ gì cho Tòa án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H; cho ông H được ly hôn với bà Sóc K là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 cho bà Thạch Thị Sóc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo yêu cầu của ông H và cũng theo nguyện vọng của cháu Huy H1. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Sóc K không có ý kiến yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc ông H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của ông Phạm Quang H cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn trong vụ án là bà Thạch Thị Sóc K có hộ khẩu thường trú tại huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H là nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Sóc K là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật.

Về hôn nhân: Ông H và bà Sóc K chung sống với nhau năm 2012 và có đăng ký kết hôn phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết Tòa án xác minh đối với người thân gia đình bà Sóc K được biết: Nguyên nhân mẫu thuẫn là do vợ chồng có mẫu thuẫn cự cải nhau, thậm chí ông H có nhiều lần đánh bà Sóc K. Mặc dù, gia đình có khuyên bảo vợ chồng nên nhẫn nhịn để hàn gắn lại với nhau nhưng không có kết quả. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Sóc K đến Tòa để hòa giải, động viên ông H và bà Sóc K khắc phục mâu thuẫn và cùng đoàn tụ lại với nhau nhưng bà Sóc K vẫn vắng mặt tại buổi hòa giải, xét xử và cũng không có ý kiến thể hiện bằng văn bản. Điều này cho thấy bà Sóc K không quan tâm đến cuộc hôn nhân của mình và cũng không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông H và bà Sóc K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, kéo dài cuộc hôn nhân cũng không có ý nghĩa. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về con chung: Ông H và bà Sóc K có một con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 cho bà Thạch Thị Sóc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xét thấy, ông H đồng ý giao con chung cho bà Sóc K nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện và đúng theo nguyện vọng của cháu Huy H1 là phù hợp theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con; bà Sóc K cũng không có ý kiến yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Ông H khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xét quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16 tháng 01 năm 2024 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quang H.

Về hôn nhân: Cho ông Phạm Quang H được ly hôn với bà Thạch Thị Sóc K.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Huy H1, sinh ngày 27/6/2012 cho bà Thạch Thị Sóc K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; cũng phù hợp theo nguyện vọng của cháu Huy H1.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị Sóc K không có ý kiến yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Phạm Quang H không tranh chấp, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông Phạm Quang H khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Phạm Quang H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008793 ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Ông Phạm Quang H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ