- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Trương D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh
2. Ông Nguyễn Minh Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kiều T, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1993 (có mặt);
2. Bị đơn: Anh Trần Trương D, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1990 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Trần Trương D chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TA, huyện AB, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 12 năm 2015. Chị và anh Trần Trương D có 02 người con chung tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019, từ khi anh chị ly thân các con chung sống chung với chị đến nay; về tài sản chung và nợ, chị và anh Trần Trương D không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Trần Trương D không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, anh Trần Trương D lười lao động, tụ tập ăn chơi với bạn bè làm ảnh hưởng kinh tế gia đình, không quan tâm chăm sóc đến vợ con, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị và anh Trần Trương D sống ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con tên Trần Dương Bảo Th, chị không yêu cầu anh Trần Trương D cấp dưỡng nuôi con mặc dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ, chị cam kết không yêu cầu Tòa án giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
* Tại Đơn yêu cầu giải quyết và xét xử xin vắng mặt ngày 25 tháng 02 năm 2025, bị đơn anh Trần Trương D trình bày như sau:
Anh không đồng ý ly hôn chị Võ Thị Kiều T, anh muốn đoàn tụ để nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành. Về quan hệ con chung, anh xác định trong thời gian sinh sống có 02 người con chung tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 đang chung sống với chị Võ Thị Kiều T. Nếu chị Võ Thị Kiều T quyết định ly hôn mà không đoàn tụ được thì anh yêu cầu được nuôi người con chung tên Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2014, anh thống nhất giao người con chung tên Võ Hoàng Anh cho chị Võ Thị Kiều T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cùng ai. Về tài sản chung, anh xác định trong thời gian sinh sống không có tài sản chung, không có nợ, anh không yêu cầu giải quyết. Anh đi làm ăn xa nên không tham gia giải quyết vụ án được, anh làm đơn này yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt anh và cam kết không yêu cầu, khiếu nại về sau.
* Tại Văn bản trình bày nguyện vọng ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Trần Dương Bảo Th như sau:
Trần Dương Bảo Th con của chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D, địa chỉ: ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Từ khi cha và mẹ không chung sống với nhau thì Trần Dương Bảo Th sống chung với mẹ là chị Võ Thị Kiều T, địa chỉ: ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Nếu cha mẹ Trần Dương Bảo Th ly hôn, Trần Dương Bảo Th có nguyện vọng chung sống với mẹ là chị Võ Thị Kiều T, địa chỉ: ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang và cam kết lời trình bày Trần Dương Bảo Th là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình.
* Tại Biên bản xác minh ngày 15 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D xác lập hôn nhân và sinh sống, làm việc tại ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi bất hòa trong làm ăn kinh tế gia đình nên anh chị đã sống ly thân. Anh chị có 02 người con chung, hiện nay đang chung sống với chị Võ Thị Kiều T.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân Võ Thị Kiều T, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1993 (Bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn Trần Trương D và Võ Thị Kiều T số: 01/2015, quyển số: 01/2015, ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã TA, huyện AB, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); 02 Giấy khai sinh tên Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 23 tháng 9 năm 2024 của chị Võ Thị Kiều T (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 15 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Trình bày nguyện vọng ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Trần Dương Bảo Th (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con Trần Dương Bảo Th, chị không yêu cầu anh Trần Trương D cấp dưỡng nuôi con, mặt dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ, chị Võ Thị Kiều T tự xác định không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Trần Trương D gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Trương D gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Võ Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Trương D. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao 02 người con chung của anh chị cho chị Võ Thị Kiều T tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung anh chị tên Trần Dương Bảo Th. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Võ Thị Kiều T không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ, chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Trần Trương D, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn cư trú tại: ấp HT, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Trương D biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Võ Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Trương D thì anh Trần Trương D không có ý kiến yêu cầu gì bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Trần Trương D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Trần Trương D thì anh Trần Trương D gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, chị Võ Thị Kiều T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Trương D theo quy định tại khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D chung sống với nhau vào năm 2013, đến năm 2015 đi đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã TA, huyện AB, tỉnh Kiên Giang là nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 108/2015 ngày 10 tháng 12 năm 2015, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Võ Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D, quá trình chung sống chị và anh Trần Trương D thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau, anh Trần Trương D nghe lời gia đình anh, tính toán chi ly tiền bạc với chị và tính gia trưởng trong gia đình, chị và anh Trần Trương D sống không hạnh phúc, chị sống ly thân với anh Trần Trương D từ ngày 12/7/2021 cho đến nay, thời gian 01 năm nay chị và anh Trần Trương D không có liên lạc gì với nhau. Chị thấy, chị và anh Trần Trương D không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D thì anh Trần Trương D không có yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Võ Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Võ Thị Kiều T cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trương D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kiều T, cho chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Trương D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Trương D có 02 người con chung tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 hiện nay sống chung với chị Võ Thị Kiều T. Khi ly hôn, chị Võ Thị Kiều T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung; anh Trần Trương D không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời các người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Võ Thị Kiều T, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Võ Thị Kiều T và ý kiến nguyện vọng của con anh chị tên Trần Dương Bảo Th, giao 02 người con chung của anh chị tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 cho chị Võ Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyên vọng của con anh chị tên Trần Dương Bảo Th là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình;
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Võ Thị Kiều T không yêu cầu anh Trần Trương D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Võ Thị Kiều T tự xác định, chị và anh Trần Trương D không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Trương D.
2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung của anh chị tên: Trần Dương Bảo Th, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2018 và Trần Mỹ K, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2019 cho chị Võ Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyên vọng của con anh chị tên Trần Dương Bảo Th và hiện nay đang chung sống với chị Võ Thị Kiều T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Kiều T không yêu cầu anh Trần Trương D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Võ Thị Kiều T tự xác định, chị và anh Trần Trương D không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Võ Thị Kiều T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003566 ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Võ Thị Kiều T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 13/3/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - UBND xã TA, AB, Kiên Giang; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |