vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc xác định cha cho con.

Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương để làm thủ tục khai sinh cho cháu bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B theo quy định của pháp luật. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc xác định cha cho con.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TB
TỈNH PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 5 - 2025
“V/v: Tranh chấp xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB-TỈNH PT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Mạnh Cường.

2. Bà Vương Thị Thu.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TB;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, tỉnh PT tham gia phiên toà: Bà Hng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện TB, tỉnh PT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 về: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khu 10, xã HC, huyện TB, tỉnh PT.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996 ; Địa chỉ: Khu 10, xã HC, huyện TB, tỉnh PT.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đại Đồng, xã PL, thị xã NS, tỉnh TH.

(Chị H, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 21/11/2016, tại UBND xã PL, huyện TG, tỉnh TH trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống do có nhiều mâu thuẫn nên chị H đã làm đơn xin ly hôn anh H1. Tại Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã NS, tỉnh THđã xét xử cho chị H ly hôn anh H1 và xét xử về con chung: Giao con chung của chị H và anh H1 là cháu Phạm B Nam, sinh ngày 03/9/2017 cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Trong thời kỳ hôn nhân với anh H1, do chị H và anh H1 có nhiều mâu thuẫn nên chị H và anh H1 đã ly thân từ cuối năm 2018 đến khi ly hôn năm 2024. Trong thời gian giải quyết vụ án ly hôn với anh H1, chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Ngọc T và mang thai con của anh T.

Ngày 12/02/2024, chị đã sinh con tại Bệnh viện đa khoa H1 Vương (theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương). Do vướng mắc các thủ tục pháp lý nên con chị H chưa được đặt tên, chưa làm được giấy khai sinh. Vì vậy chị khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé được chị sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương (tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Ngọc Gia B).

* Tại Bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T trình bày: Anh quen biết chị Nguyễn Thị H từ năm 2021 và sau đó phát sinh quan hệ tình cảm với chị H. Thời điểm này, anh biết chị H vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Phạm Văn H1 nhưng đang ly thân với anh H1. Sau khi chị H ly hôn với anh H1 thì ngày 12/02/2024 chị H đã sinh con trai tại Bệnh viện đa khoa H1 Vương. Trên giấy tờ pháp lý thì con do chị H sinh ra ngày 12/02/2024 là con đẻ của chị H và anh H1 nhưng trên thực tế lại là con đẻ của anh. Nay chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TB xác định anh T là cha đẻ của cháu bé được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương (tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Ngọc Gia B) thì anh T nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị H và anh T đề nghị Toà án xác định bé trai được chị H sinh ra là con đẻ của anh T.

* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn H1, Tòa án nhân dân huyện TB đã Uỷ thác cho Toà án nhân dân thị xã NS, tỉnh TH tiến hành lấy lời khai, giao các văn bản tố tụng nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do, không có quan điểm trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Sau khi nhận được đơn yêu cầu trưng cầu giám định ADN của chị H, Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ ngày 24/01/2025.

Kết quả xét nghiệm ADN số 7202H/2025 ngày 04/02/2025 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN kết luận:

NGUYỄN NGỌC T có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Ngọc Gia B, độ tin cậy > 99,999999%”

Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu của mình đã trình bày.

* Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy báo phiên toà của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; khoản 1 Điều 89, Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc xác định cha cho con. Xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé trai được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B.

Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương để làm thủ tục khai sinh cho cháu bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp toàn bộ chi phí trưng cầu giám định ADN (đã nộp đủ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T trú tại Khu 10, xã HC, huyện TB, tỉnh PT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn H1, Tòa án nhân dân huyện TB đã Uỷ thác cho Toà án nhân dân thị xã NS, tỉnh TH tiến hành lấy lời khai, giao các văn bản tố tụng nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do, không có quan điểm trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc T, anh Phạm Văn H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: Trong thời kỳ hôn nhân giữa chị H và anh H1, chị H đã phát sinh quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Ngọc T. Trước khi chị H làm đơn xin ly hôn anh H1 tại Toà án nhân dân huyện NS, tỉnh TH thì chị H đang mang thai với anh T và Tại Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã NS, tỉnh THđã quyết định xử cho chị H được ly hôn với anh H1 và về con chung xác định có 01 con chung và giao anh H1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm B Nam, sinh ngày 03/9/2017. Đến ngày 12/02/2024 chị H đã sinh một cháu bé trai theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B. Do cháu bé trai sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân giữa chị H và anh H1 nên cháu bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B không đủ điều kiện để đăng ký khai sinh theo họ của anh Nguyễn Ngọc T. Sau đó đến ngày 20/02/2024, chị H và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã HC, huyện TB. Nay chị H đề nghị Toà án xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé được chị sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương (tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Ngọc Gia B).

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T đều thừa nhận cháu bé trai do chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B là con đẻ của anh Nguyễn Ngọc T và anh T đề nghị Toà án xác định bé trai được chị H sinh ra là con đẻ của anh T.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu trưng cầu giám định AND của chị H, Tòa án nhân dân huyện TB đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ ngày 24/01/2025.

Kết quả xét nghiệm ADN số 7202H/2025 ngày 04/02/2025 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN, kết luận: “NGUYỄN NGỌC T có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Ngọc Gia B, độ tin cậy > 99,999999%”

Mặc dù cháu bé trai được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân giữa chị H và anh H1 nhưng căn cứ vào: Kết quả xét nghiệm ADN số 7202H/2025 ngày 04/02/2025 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN, kết luận: “NGUYỄN NGỌC T có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Ngọc Gia B, độ tin cậy > 99,999999%”; Chị H và anh T đều thừa nhận bé trai được chị H sinh ra là con đẻ của anh T và anh T đề nghị Toà án xác định bé trai được chị H sinh ra là con đẻ của anh T. Do đó có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé trai được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc đề nghị xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé trai được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 88, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí về việc xác định cha cho con theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp toàn bộ chi phí trưng cầu giám định ADN (đã nộp đủ).

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc xác định cha cho con. Xác định anh Nguyễn Ngọc T là cha đẻ của cháu bé trai được chị H sinh ra theo Giấy chứng sinh số 2022-SCC/2306 ngày 12/02/2024 của Bệnh viện đa khoa H1 Vương, dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B.

Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương để làm thủ tục khai sinh cho cháu bé trai dự định đặt tên là Nguyễn Ngọc Gia B theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp toàn bộ chi phí trưng cầu giám định ADN (đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ