- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 51 Bộ luật Hình s - xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 25 - 4 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đình Tùng bà Lê Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình s sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T - sinh năm 1994; nơi thường trú: thôn 8, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: không xác định được, mẹ: Nguyễn Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền s : không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền s : không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Bá T2 - sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn M T, xã T N, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá T và bà Đinh Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền s : không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn H - sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn B L, xã T P, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trần Lệ Q, có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền s : không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
5. Hoàng Đình D - sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn B T, xã Y T, huyện Y Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình B và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền s : không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Nguyễn Thành L - sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn T H H, xã T H, huyện T L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị L - sinh năm 1995; vắng mặt;
2. Anh Nguyễn Văn H - sinh năm 1983; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 07/8/2023, trong lúc Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1; Lê Bá T2; Nguyễn Văn H và Hoàng Đình D đang ngồi ăn uống tại quán lẩu bốn mùa Minh Tâm của anh Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1993, địa chỉ tại thôn B L, xã T N, huyện T L. Cùng thời điểm đó có Nguyễn Thành L - sinh năm 1998 cùng với các anh Trần Minh P - sinh năm 2005, Nhữ Văn D- sinh năm 2000, Đinh Văn L - sinh năm 1998 đều trú tại thôn T H H, xã T H, huyện T L và anh Nguyễn Văn H - sinh năm 1991, trú tại tập thể cơ khí điện B, phường L K, quận H Đ, thành phố Hà Nội cũng ngồi ăn uống ở bàn bên cạnh. Do có quen biết từ trước với T nên L cùng với anh L đi sang mời rượu T và những người ngồi cùng bàn với T thì bị T từ chối, nói không quen biết và cùng với một số người khác bảo L quay về bàn. Sau đó L và anh L tiếp tục đi sang bàn của T, L ngồi cạnh T còn anh L ngồi cạnh H cùng mời rượu và nói chuyện thì giữa L, T, T1 xảy ra mâu thuẫn, chửi nhau, T1 đứng dậy dùng tay đẩy vào người L thì được anh L và T2 can ngăn, anh L ôm đẩy T1 ra ngoài thì T1 vùng ra, xông vào đấm L nhưng không trúng, tiếp đó anh L và D kéo T1 còn T2 và H đẩy L ra để can ngăn thì T xông đến dùng tay phải tát trúng má trái L, rồi T quay lại chỗ giá để bát trong quán lấy 01 bát sứ cầm ở tay phải ném trúng vùng mặt L thì D và H cùng xông vào dùng bát sứ ném về phía L, T1 xông vào dùng tay chân đấm đá còn T3 cầm ghế nh a xông vào vụt L. Cả nhóm dồn, đẩy L về phía cầu thang của quán, H tiếp tục cầm cốc thủy tinh, bát, đĩa sứ và bát nh a ném trúng người L còn T2 dùng tay phải đấm L, sau đó T bị L đấm, ngã ngửa ra nền quán, rồi T đứng dậy cầm ống đ ng đũa bằng nh a, dùng cốc thủy tinh đập 01 nhát trúng vùng mặt L còn D dùng tay phải đấm trúng vai trái L, T2 tiếp tục lấy ghế nh a vụt về phía L, cầm bát sứ ném trúng người L gây thương tích. Khi được mọi người can ngăn, L đi ra gần chỗ để máy rót bia đứng thì T tiếp tục cầm cốc thủy tinh ném về phía L nhưng không trúng, T chạy đến, cầm cốc thủy tinh ở tay phải đập trúng vùng đầu L thì được mọi người đẩy ra, L tiếp tục cầm cốc thủy tinh ném trúng tay trái T còn T cầm bát sứ ném trúng người L rồi cả hai xông vào đấm nhau thì được mọi người can ngăn.
Hậu quả: Nguyễn Thành L bị thương tích được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn T bị thương tích nhẹ; một số bát sứ, cốc thủy tinh của quán bia Minh Tâm bị vỡ.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã Thanh Nghị đã xác minh, thu thập tài liệu ban đầu; thu giữ đồ vật gồm: 15 mảnh bát sứ vỡ; 16 mảnh vỡ cốc thủy tinh đều có kích thước khác nhau. Đến ngày 08/8/2023, Công an xã Thanh Nghị đã chuyển toàn bộ tài liệu ban đầu, đồ vật đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình kiểm tra, xác minh, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm đã thu giữ: 01 ống đ ng đũa bằng nh a, kích thước (14x7x10x20)cm; 01 bát nh a, kích thước (25x20)cm; 02 ghế nh a, loại có t a lưng, kích thước (0,35x0,4x1,2)m do anh Nguyễn Văn T3 t nguyện giao nộp; trích xuất, sao lưu hình ảnh có liên quan đến vụ việc trong 01 USB niêm phong trong phong bì ký hiệu M1.
Ngày 30/10/2023, cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam giám định mức độ tổn hại sức khỏe của Nguyễn Thành L. Tại bản Kết luận giám định số 429/KLTTCT-TTPY ngày 22/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận:
“1. Các kết quả chính: Gãy xương chính mũi, không ảnh hưởng đến chức năng thở; Sẹo nhỏ vùng đầu, không ảnh hưởng chức năng; 04 sẹo nhỏ vùng mặt, không ảnh hưởng chức năng; Sẹo nhỏ vai trái, không ảnh hưởng chức năng; Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng trán; Sưng nề, bầm tím mắt phải, hiện ổn định”.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành L tại thời điểm giám định là 20% (hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Thương tích ổn định, không xác định được chiều hướng. Rách, xây xát da do vật có cạnh gây nên. Sưng nề bầm tím và gãy xương chính mũi do vật tày gây nên”.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 ống đ ng đũa, 01 chiếc bát, 02 chiếc ghế đều bằng nh a, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của gia đình anh Nguyễn Văn T3, cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T3.
- Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D đã t nguyện bồi thường cho Nguyễn Thành L số tiền 165.000.000 đồng, đến nay Nguyễn Thành L không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Anh Nguyễn Văn T3 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với thiệt hại của tài sản bị hư hỏng; còn Nguyễn Văn T không yêu cầu, đề nghị gì về thương tích của bản thân.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-TA ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình s .
* Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm th c hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tôi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s cũng như nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình s - xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 tháng đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 30 tháng đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; xử phạt bị cáo Lê Bá T2 từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng; xử phạt bị cáo Hoàng Đình D từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình s - tịch thu, tiêu hủy 16 mảnh vỡ của cốc thủy tinh; 15 mảnh vỡ của bát sứ. Lưu tại hồ sơ vụ án 01 USB sao lưu hình ảnh có liên quan đến vụ án. Về trách nhiệm dân s các bị cáo và bị hại đã t nguyện giải quyết xong nay không đặt ra xem xét giải quyết.
- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã th c hiện đúng về thẩm quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và toàn bộ những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết vụ án; nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình s .
[2] Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, bản Kết luận giám định, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 07/8/2023 tại quán lẩu bốn mùa Minh Tâm của anh Nguyễn Văn T3 có địa chỉ tại thôn B L, xã T N, huyện T L; giữa Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thành L đã xảy ra mâu thuẫn với nhau, sau đó T cầm bát sứ, ống đ ng đũa bằng nh a, cốc thủy tinh cùng với Hoàng Đình D cầm bát sứ, Nguyễn Văn H cầm bát, đĩa sứ, bát nh a, Lê Bá T2 cầm ghế nh a, bát sứ còn T1 dùng tay chân cùng tấn công, đánh gây thương tích cho Nguyễn Thành L với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình s ; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật t tại địa phương. Bản thân các bị cáo có đủ năng l c trách nhiệm hình s , gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Hội đồng xét xử thấy cần ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn là những người phát sinh mâu thuẫn và tích c c th c hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò thứ nhất; Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D cùng th c hiện hành vi nên đồng phạm giữ vai trò thứ hai.
[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s :
- Về nhân thân: các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền s .
- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình s .
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “t nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình s . Ngoài ra, bị cáo Lê Bá T2 có ông ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị hại xin miễn truy cứu trách nhiêm hình s cho các bị cáo; nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s .
[4] Về hình phạt: Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình s , có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại tại địa phương luôn cháp hành tốt các quy định của pháp luật, nội quy, quy định của địa phương, nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng án treo, chịu s giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật t , an toàn xã hội, đồng thời thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình s và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 16 mảnh vỡ của cốc thủy tinh; 15 mảnh vỡ của bát sứ; hiện không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 USB lưu trữ hình ảnh liên quan đến vụ án: đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
[6] Về trách nhiệm dân s : bị hại là anh Nguyễn Thành L đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn T3 không có yêu cầu, đề nghị gì; nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Về các vấn đề khác:
- Tài liệu điều tra xác định khi vụ việc xảy ra anh Đinh Văn L chỉ can ngăn, không hô hoán, không tham gia đuổi đánh nhau, nên cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để xử lý.
- Đối với hành vi của Nguyễn Thành L dùng chân tay, đấm đá, cầm cốc thủy tinh ném trúng người Nguyễn Văn T, nhưng do bị thương nhẹ nên T không yêu cầu xử lý hình s đối với L, vì vậy cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để xem xét xử lý hình s . Ngày 29/02/2024, Công an huyện Thanh Liêm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt Nguyễn Thành L 5.750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.
- Tài liệu điều tra xác định vụ việc xảy ra với thời gian ngắn, trong khuôn viên phòng ăn của quán, khi đó một số khách khác không bị ảnh hưởng vẫn ngồi ăn uống tại quán. Do vậy cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ xem xét, xử lý về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
[ 7] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình s sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Về hình s : căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình s ; điểm c khoản 2 Điều 106, các điều 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024);
- Xử phạt bị cáo Lê Bá T2 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024);
- Xử phạt bị cáo Hoàng Đình D 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024);
Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Bá T2 cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Nguyên, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hoàng Đình D cho Ủy ban nhân dân xã Yên Thọ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình s .
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 16 mảnh vỡ của cốc thủy tinh; 15 mảnh vỡ của bát sứ (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3//2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân s huyện Thanh Liêm). Lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB, niêm phong trong phong bì ký hiệu M1.
3. Về án phí: các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Bá T2, Nguyễn Văn H, Hoàng Đình D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình s sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s ./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Các bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Trần Văn Cảnh |