- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài l…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn M phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N G TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 19/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N G, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bớt Xớp
Ông Dương Văn Thạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông CLâu Thìn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N G, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N G, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N G, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Văn M, sinh năm 1997; Tại: Đ L, Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Tĩnh Y, xã Duy Th, huyện Duy X, tỉnh Quảng Nam, Nghề nghiệp: Phụ lái máy múc. Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Đình Q, Sinh năm 1960 và bà Bùi Thị L, Sinh năm 1976, bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Ngày 04/9/2024 Công an huyện N G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.817.308-981-24-000449/QĐ-XPVPHC đối với Hồ Văn M với số tiền phạt là 5.000.000 đồng. Ngày 13/09/2024 Hồ Văn M đã chấp hành xong việc nộp phạt; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Thạch H, xã Tam Đ, huyện Phú N, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt).
2/ Ông Lê Quý Ch, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn Trường L, xã Tam Th, huyện Phú N, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 6/2023, bị cáo M có nhu cầu sử dụng Giấy phép lái xe hạng C nhưng không phải qua đào tạo vậy nên bị cáo M thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với người dùng trang Facebook (không nhớ tên trang là gì) để đặt mua một Giấy phép lái xe hạng C thì được báo giá là 5.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo M cung cấp hình ảnh căn cước công dân, hình ảnh chụp chân dung của bị cáo M, bị cáo M đồng ý và cung cấp những tài liệu trên cho trang Facebook này. Khoảng 10 ngày sau, bị cáo M nhận được một Giấy phép lái xe hạng C mang tên Hồ Văn M từ shipper giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch và thuộc Công ty giao hàng nào) và thanh toán bằng tiền mặt số tiền 5.000.000 đồng cho shipper này.
Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 01/9/2024, bị cáo M điều khiển xe ôtô tải BKS: 92C-11441 chở cát cho Công ty TNHH MTV Thiên An từ Chà Vàl đến Km01+800 đường QL 14D thì bị tổ tuần tra kiểm soát của Đội CSGT-TT Công an huyện N G lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Điều khiển xe gắn biển số không rõ” và tạm giữ một Giấy phép lái xe hạng C mang tên Hồ Văn M.
Tại bản Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; họ tên: Hồ Văn M, ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; nơi cư trú: thôn Tĩnh Y, X. Duy T, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam là giả.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; Họ tên: HỒ VĂN M, Ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Y, X. Duy Th, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, Nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSNG ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N G, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Hồ Văn M về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N G, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Hồ Văn M từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận Quyết định thi hành án. Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng năm 2015. Đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01(một) “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; Họ tên: HỒ VĂN M, Ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Y, X. Duy Th, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, Nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam chuyển theo hồ sơ vụ án.
Lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. HĐXX căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện N G, Điều tra viên; Viện Kiểm sát huyện N G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo M đều khai và thừa nhận: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng vì gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vì cuộc sống lao động mưu sinh, do thiếu hiểu biết pháp luật, suy nghĩ đơn giản nên trong khoảng tháng 6/2023, bị cáo M có nhu cầu sử dụng Giấy phép lái xe hạng C nhưng không phải qua đào tạo, vậy nên bị cáo M thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với người dùng trang Facebook (không nhớ tên trang là gì) để đặt mua một Giấy phép lái xe hạng C thì được báo giá là 5.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo M cung cấp hình ảnh căn cước công dân, hình ảnh chụp chân dung của bị cáo M, bị cáo M đồng ý và cung cấp những tài liệu trên cho trang Facebook này. Khoảng 10 ngày sau, bị cáo M nhận được một Giấy phép lái xe hạng C mang tên Hồ Văn M từ shipper giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch và thuộc Công ty giao hàng nào) và thanh toán bằng tiền mặt số tiền 5.000.000 đồng cho shipper này.
Tại bản Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng
Nam kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; họ tên: Hồ Văn M, ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; nơi cư trú: thôn Tĩnh Y, X. Duy Th, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam là giả. Lời khai nhận tội của bị cáo M tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người liên quan, biên bản giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Hồ Văn M là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm đã đủ yếu tố cấu thành tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có căn cứ và đúng pháp luật, như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện N G, tỉnh Quảng Nam.
Ngoài ra Hội đồng xét xử cũng thấy rằng: Đối với hành vi cung cấp thông tin và thuê người làm giả giấy phép lái xe của bị cáo M. Bị cáo M là người đặt vấn đề, cung cấp thông tin và thanh toán tiền để làm giả giấy phép lái xe nêu trên, hành vi của bị cáo M có dấu hiệu đồng phạm về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tuy nhiên, bị cáo M không biết người này và các tài liệu điều tra thu thập không xác định được người đã thực hiện hành vi làm giả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện để thực hiện việc làm giả giấy phép lái xe nêu trên. Do đó, hành vi này của bị cáo M không đủ yếu tố cấu thành “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với trang Facebook bị cáo M liên hệ mua và làm Giấy phép lái xe giả cho bị cáo M, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được trang Facebook nào, không xác định được nhân thân lai lịch của người làm Giấy phép lái xe giả cho bị cáo M. Và đối với Shipper giao Giấy phép lái xe giả cho bị cáo M, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch. Đến nay, thời hạn điều tra đã hết, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nên khi nào xác minh được sẽ tiến hành làm việc xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến trật tự Quản lý hành chính Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đến các hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức để biết rõ hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu của Cơ quan tổ chức Nhà nước là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo còn tiếp tay tạo điều kiện và thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội khác ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cộng đồng dân cư trong xã hội. Do đó, cần thiết phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, hành vi của bị cáo là thiếu suy nghĩ chỉ vì muốn có việc làm tăng thêm thu nhập để chăm lo gia đình mà thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho bị cáo M mà cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương giúp bị cáo tiếp tục lao động, chăm lo gia đình. Ngoài ra bị cáo phải bị khấu trừ một phần thu nhập, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng do vậy không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Minh.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo M khai không có công việc ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với hành vi “Điều khiển xe gắn biển số không rõ số” vi phạm điểm d khoản 6 Điều 16 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021), Công an huyện N G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 5.000.000 đồng. Hồ Văn M đã chấp hành xong việc nộp phạt.
Đối với ông Lê Quý Ch và ông Nguyễn Huy H, quá trình điều tra xác định ông Ch, ông H không biết bị cáo M sử dụng Giấy phép lái xe hạng C giả nên đã tin tưởng, nhận và cho bị cáo M lái xe cho Công ty TNHH MTV Thiên An. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với số tiền 4.200.000 đồng đây là số tiền ngày công lao động của bị cáo do đó không có cơ sở để tịch thu sung công quỹ.
Về xử lý vật chứng: 01(một) “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; Họ tên: HỒ VĂN M, Ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Y, X. Duy Th, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, Nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam chuyển theo hồ sơ vụ án nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng năm 2015 Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn M phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn M 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời điểm cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hồ Văn M. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Hồ Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Duy Th, huyện Duy X, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Duy Th, huyện Duy X, tỉnh Quảng Nam trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01(một) “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng C; số 490237001799; Họ tên: HỒ VĂN M, Ngày sinh: 01/11/1997, quốc tịch: VIỆT NAM; Nơi cư trú: Thôn Tĩnh Y, X. Duy Th, H. Duy X, T. Quảng Nam; đề ngày cấp: 29/6/2023, Nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hồ Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng HSNV Công an tỉnh Quảng Nam; - Đội Tổng hợp Công an huyện N G; - Phòng HCTP - Sở Tư Pháp Quảng Nam; - Lưu hồ sơ, án văn; - Thi hành án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Nam Trung |