vanban.org

Bản án 24/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 20-9-2024.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Vĩnh;

2. Bà Phạm Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, về việc Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Khổng Văn T, sinh năm 1986.

Địa chỉ thôn 3, xã C, huyện S, tỉnh V; “Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt”.

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988.

Địa chỉ thôn 5, xã N Lộ, thị xã N, tỉnh Y; “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai anh Khổng Văn T trình bày:

+ Quan hệ hôn nhân: Anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/02/2008, tại UBND xã C, huyện S, tỉnh V; sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 3, xã C P; đến tháng 8/2018 thì vợ chồng chuyển đến thôn 5, xã N, thị xã N, tỉnh Y sinh sống. Tháng 3/2022 chị T đi làm ăn xa và hai người sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể kéo dài, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Phạm Thị T.

+ Con chung: Anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T có 03 con chung là Khổng Gia B, sinh ngày 17/6/2009; Khổng Thị Huyền T, sinh ngày 30/8/2011; Khổng Tiến N, sinh ngày 18/02/2013. Sau khi ly hôn anh T đề nghị anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung; không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Tài sản chung và nợ chung: Anh Khổng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ đối với chị Phạm Thị T nhiều lần, chị T cố ý không có mặt để giải quyết vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành lập biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

- Bản tự khai của cháu Khổng Gia B và Khổng Tiến N: Sau khi anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T ly hôn cháu Bảo và cháu N có nguyện vọng muốn được ở cùng anh T.

- Bản tự khai của cháu Khổng Thị Huyền T: Sau khi anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T ly hôn cháu Trang có nguyện vọng muốn được ở cùng chị T.

- Biên bản xác minh ngày 14/8/2024 tại thôn 5, xã N: Anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T về chung sống với nhau tại thôn 5, xã N từ năm 2018; hiện chị T có hộ khẩu tại thôn 5, xã N, anh T chưa chuyển khẩu đến xã N. Anh T và chị T chung sống cùng nhau đến đầu năm 2022 thì chị T đi làm ăn xa, hiện hai người đã sống ly thân; anh T đã đưa cả ba con về V sinh sống.

Đối với các văn bản tố tụng Tòa án đã niêm yết tại địa phương cũng như các văn bản gửi về cho chị T, chính quyền địa phương đã tống đạt cho bà Phạm Thị L là mẹ đẻ chị T, qua nắm bắt chính quyền địa phương biết được phía gia đình chị T đã thông báo cho chị T về việc Tòa án đang thụ lý giải quyết việc anh T xin ly hôn chị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ phát biểu quan điểm:

Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều luật áp dụng: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Khổng Văn T được ly hôn Chị Phạm Thị T.

- Con chung: Giao ba cháu Khổng Gia B, sinh ngày 17/6/2009; Khổng Thị Huyền T, sinh ngày 30/8/2011 và Khổng Tiến N, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Khổng Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; chị T không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền thăm nom con chung.

- Tài sản chung Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tố tụng: Anh Khổng Văn Tuy khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia xét xử lần hai nhưng vắng mặt, không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Quan hệ hôn nhân: Anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện S, tỉnh V, vào ngày 28/02/2008 và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 9, Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Như vậy, hôn nhân của anh T và chị T là hợp pháp.

Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa anh T và chị T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T đi làm ăn xa, hai người sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa anh T và chị T đã thật sự trầm trọng; đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho anh Khổng Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị T.

Con chung: Giữa anh Khổng Văn T và chị Phạm Thị T có 03 con chung là Khổng Gia B, sinh ngày 17/6/2009; Khổng Thị Huyền T, sinh ngày 30/8/2011 và Khổng Tiến N, sinh ngày 18/02/2013.

Đối với đề nghị của anh T, sau khi ly hôn anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung; không đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng hiện chị T đi làm ăn xa tại tỉnh Bình Dương, không có mặt tại địa phương; anh T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu. Để không làm xáo trộn môi trường sống của các cháu, nên cần giao cho anh T nuôi dưỡng cả ba con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh Khổng Văn T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Tài sản chung và nợ chung: Anh Khổng Văn T không đề nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Anh Khổng Văn T phải chịu án phí.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Quan hệ hôn nhân:

Xử cho anh Khổng Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị T.

2. Con chung:

Xử giao cho anh Khổng Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung là Khổng Gia B, sinh ngày 17/6/2009; Khổng Thị Huyền T, sinh ngày 30/8/2011và Khổng Tiến N, sinh ngày 18/02/2013.

Chị Phạm Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Anh Khổng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0000902 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghĩa Lộ; anh T đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ