- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Le Thi N - Ann Seong Jun"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/01/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Vinh Quang
Bà Trương Ngọc Diện
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Ann Seong J, sinh năm 1976
Địa chỉ: Số C - D, S, Nam - gu, I, Hàn Quốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày và yêu cầu:
Năm 2011 bà quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân với ông Ann Seong J và làm thủ tục ghi chú kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ theo Trích lục ghi chú kết hôn số 59/TLGCKH-BS ngày 15/02/2023. Sau khi kết hôn, ông Ann Seong J làm thủ tục bảo lãnh bà sang Hàn Quốc sinh sống. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng về sau thì ông A Seong Jun thường xuyên say sỉn, thiếu sự quan tâm, bà và ông Ann Seong J thường hay cự cãi, cuộc sống trở nên lạnh nhạt, từ đó mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 7/2013, bà dọn đồ đến nhà chị ruột tại Hàn Quốc sinh sống. Trong thời gian này, ông Ann Seong J có vài lần liên lạc với bà, nhưng tình cảm đã không còn, không thể hàn gắn được nữa, nên bà và ông Ann Seong J chính thức ly thân từ đó. Tháng 12/2021, bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay.
Chính vì những lý do trên, bà làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ann Seong J.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu
Bị đơn là ông Ann Seong J vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, do hai bên bất đồng quan điểm, thời gian ly thân kéo dài, hai bên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Ann Seong J.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị N khởi kiện xin ly hôn với ông Ann S Jun cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Lê Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Ann Seong J đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N và ông Ann Seong J chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ theo Trích lục ghi chú kết hôn số 59/TLGCKH-BS ngày 15/02/2023 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà N trình bày, sau khi kết hôn, ông làm thủ tục bảo lãnh bà sang Hàn Quốc sinh sống. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, nhưng về sau ông Ann Seong J thường xuyên say sỉn, thiếu sự quan tâm, bà và ông Ann Seong J thường hay cự cãi, cuộc sống trở nên lạnh nhạt, mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 7/2013, bà dọn đồ đến nhà chị ruột tại Hàn Quốc để sinh sống. Trong thời gian này ông Ann Seong J có vài lần liên lạc với bà, nhưng tình cảm đã không còn, không thể hàn gắn được nữa, nên bà và ông Ann Seong J chính thức ly thân từ đó. Tháng 12/2021, bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay.
Xét thấy, giữa bà N và ông Ann Seong J có thời gian chung sống, nhưng đã sống ly thân với nhau trong thời gian dài, mỗi người cư trú ở một quốc gia, không quan tâm giúp đở nhau nên tình cảm thật sự phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông A Seong Jun là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N.
- Về hôn nhân: cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Ann Seong J.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0001662 ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà N đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị N phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001770 ngày 25/4/2023 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà N còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Ann Seong J. Bà N đã nộp đủ chi phí tố tụng.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Ann Seong J được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPCT; - Cục THA DS TPCT; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ - Lưu hồ sơ vụ án | (Đã ký) Võ Bảo Anh |