vanban.org

Bản án 24/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Trung D.

Về hôn nhân: Anh Đỗ Trung D được ly hôn với chị Phan Thị Truyện. Về con chung: Anh Đỗ Trung D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007. Chị Truyện không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D không có yêu cầu. Đối với con chung tên Đỗ Trung Phi trưởng thành nên không yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dũng ly hôn bà Truyện"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Trung D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ánh.

2. Ông Lê Văn Vững.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Trung D, sinh năm 1971.

Địa chỉ: ấp 2 A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Chị Phan Thị Truyện, sinh năm 1974.

Địa chỉ: ấp 2 A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm anh Đỗ Trung D là nguyên đơn trình bày:

- Về hôn nhân: Vợ chồng chung sống với nhau vào năm 1994 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau này phát sinh mâu thuẫn, thường hay cải vả, làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng.

Vào năm 2012 chị Truyện bỏ nhà đi không rõ đi đâu kể từ đó anh D và chị Truyện không còn chung sống với nhau và tình cảm vợ chồng kể từ đó cũng không còn. Sau nhiều năm chờ đợi, tìm kiếm làm cho anh D mệt mỏi. Từ khi chị Truyện bỏ đi đến nay cũng không liên lạc với anh D và cũng không về nhà thăm con. Nhiều lần tìm kiếm trong vô vọng nên vừa qua anh D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Truyện mất tích và được Tòa án chấp nhận. Nay anh Đỗ Trung D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Truyện.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Trung Phi, sinh ngày 25/8/1995, Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007. Hiện nay con chung tên Đỗ Trung Phi đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung tên Đỗ Thị Vân Anh thì anh D yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu chị Truyện cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Phan Thị Truyện đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng do chị Truyện đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

- Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm:

+ Trích lục kết hôn (bản sao).

+ Giấy CCCD của anh D (bản photo).

+ Giấy khai sinh con chung (bản sao).

+ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST-VDS ngày 27/6/2023 (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Đỗ Trung D có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con với chị Phan Thị Truyện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Chị Phan Thị Truyện là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ ở ấp 2, A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chung sống với nhau vào năm 1994 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2002, do đó hôn nhân giữa anh D và chị Truyện là hợp pháp.

Anh Truyện cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau này phát sinh mâu thuẫn, thường hay cải vả, làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Chị Truyện bỏ nhà đi từ năm 2012 đến nay, không biết đi đâu và kể từ đó anh D và chị Truyện không còn chung sống với nhau và tình cảm vợ chồng kể từ đó cũng không còn. Sau nhiều năm chờ đợi, tìm kiếm làm cho anh D mệt mỏi. Từ khi chị Truyện bỏ đi đến nay cũng không liên lạc với anh D và cũng không về nhà thăm con. Nhiều lần tìm kiếm trong vô vọng nên vừa qua anh D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Truyện mất tích và được Tòa án chấp nhận.

Nay anh Đỗ Trung D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Truyện.

Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập chị Phan Thị Truyện tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng chị Truyện bị tuyên bố mất tích, vắng mặt tại địa phương nên không đến Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh D. Xét thấy giữa anh D và chị Truyện không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, mục đích hôn nhân của anh, chị không đạt được. Nay anh D yêu cầu ly hôn với chị Truyện là có căn cứ để chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa anh D và chị Truyện mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Đỗ Trung D.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Trung Phi, sinh ngày 25/8/1995, Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007. Hiện nay con chung tên Đỗ Trung Phi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung tên Đỗ Thị Vân Anh thì anh D yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu chị Truyện cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho anh D hay cho chị Truyện nuôi dưỡng là cần xem xét về điều kiện, quyền lợi mọi mặt của con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D cho rằng con chung đang sinh sống với anh D và anh D có yêu cầu nuôi con chung tên Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007, không yêu cầu chị Truyện cấp dưỡng nuôi con. Chị Truyện vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ”.

Xét thấy từ khi anh D, chị Truyện xảy ra mâu thuẫn đến nay, anh D là người trực tiếp chăm sóc con chung, anh D chăm sóc, lo lắng, thương yêu con, lo cho con ăn học đầy đủ. Bên cạnh đó theo văn bản ghi ý kiến của con chung thì con chung có nguyện vọng được sống với anh D. Do đó để con chung tên Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007 cho anh D được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Truyện không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D không có yêu cầu. Đối với con chung tên Đỗ Trung Phi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nuôi, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Anh D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; chị Truyện không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Anh D trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; chị Truyện không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Về trách nhiệm chịu án phí:

Anh Đỗ Trung D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của anh Đỗ Trung D.

- Về hôn nhân: Anh Đỗ Trung D được ly hôn với chị Phan Thị Truyện.

- Về con chung: Anh Đỗ Trung D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Thị Vân Anh, sinh ngày 30/5/2007. Chị Truyện không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D không có yêu cầu. Đối với con chung tên Đỗ Trung Phi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nuôi, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Anh D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; chị Truyện không có ý kiến về phần tài sản chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Anh D trình bày vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết; chị Truyện không có ý kiến đối với phần nợ chung và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh Đỗ Trung D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002915 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Như vậy tiền án phí đương sự đã nộp xong.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ