- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn và nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đào Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày 29- 3 - 2024 “V/v ly hôn, nuôi con chung giữa chị T, anh D” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Ngọc Tuý;
2.Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 221/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- G đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980
- Bị đơn: Anh Đào Văn D, sinh năm 1975
Cùng nơi cư trú: Thôn S, xã Q, huyện P, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt chị T, vắng mặt anh D)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà G đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Văn D tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q vào ngày 07/9/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh D. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. G nhân mâu thuẫn là do anh D chơi bời, cờ bạc, cộng với việc tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xích mích xô xát, cũng thời gian đó vợ chồng ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn, chị xin ly hôn anh D.
Về con chung: Chị và anh Đào Văn D có 03 con chung là Đào Thị Đ sinh ngày 28/6/2000, Đào Phương N sinh ngày 22/4/2008 và Đào Khôi G sinh ngày 11/4/2015. Ly hôn, con Đ đã trưởng thành không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Chị nhận trách nhiệm nuôi dưỡng con N và con G, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Hiện tại, chị không có thai nghén gì.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình xét xử bị đơn anh Đào Văn D vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Kết quả xác minh với gia đình anh Đào Văn D và cơ sở Thôn S, xã Q thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn D là vợ chồng. Quá trình chung sống và G nhân mâu thuẫn gia đình và cơ sở thôn không biết rõ, chỉ biết do anh D chơi bời, cờ bạc và bỏ đi. Nay chị T có đơn xin ly hôn, gia đình và cơ sở thôn để nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị T, anh D có 03 con chung là Đào Thị Đ sinh ngày 28/6/2000, Đào Phương N sinh ngày 22/4/2008 và Đào Khôi G sinh ngày 11/4/2015. Ly hôn, con Đ đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Con N và con G hiện đang ở với chị T, việc giao con cho ai nuôi và cấp dưỡng cho con đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Gia đình và cơ sở thôn không biết rõ.
Hiện tại, anh D không có mặt tại gia đình và địa phương nhưng anh D thường xuyên liên lạc về gia đình. Gia đình đã nhận thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Toà án. Gia đình đã thông báo cho anh D biết nhưng anh D không đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của G đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm chấp hành pháp luật của bị đơn tại phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đào Văn D;
Về con chung: Con chung Đào Thị Đ sinh ngày 28/6/2000 đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Xử giao 02 con chung là Đào Phương N sinh ngày 22/4/2008 và Đào Khôi G sinh ngày 11/4/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết;
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với anh Đào Văn D. Do anh D là bị đơn cư trú Thôn S, xã Q, huyện P nên Tòa án nhân dân huyện P, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh D đã được Toà án đã triệu tâp hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên nên Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn D là vợ chồng, được Uỷ ban nhân dân xã Q cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 07/9/1999 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. G nhân mâu thuẫn là do anh D chơi bời, cơ bạc cộng với việc tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xích mích xô xát, cũng thời gian đó vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn, chị xin ly hôn anh D. Tòa án đã ấn định thời gian hòa giải nhưng anh D không có mặt, anh D không có thiện chí hòa giải. Mặt khác thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của chị T, anh D thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn D có 03 con chung là Đào Thị Đsinh ngày 28/6/2000, Đào Phương N sinh ngày 22/4/2008 và Đào Khôi G sinh ngày 11/4/2015. Ly hôn, con Đđã trưởng thành không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, chị T nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Phương N và Đào Khôi G, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Anh D không có quan điểm trình bày. Xét nguyện vọng nuôi con của chị T là chính đáng, các con đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, các con chung đều có nguyện vọng ở với chị T. Chị T có đủ điều kiện để nuôi con nên cần giao cả 02 con chung là Đào Phương N và Đào Khôi G cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con, như vậy là đáp ứng được nguyện vọng của các con chung và phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Đào Văn D không có ý kiến trình bày nên về tài sản Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đào Văn D.
2.Về nuôi con chung:
Con chung Đào Thị Đsinh ngày 28/6/2000 đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng;
Xử giao cả 02 con chung là Đào Phương N sinh ngày 22/4/2008 và Đào Khôi G sinh ngày 11/4/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh Đào Văn D cấp dưỡng cho con. Anh D có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị T, anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0004510 ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thành tiền án phí
5.Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Văn D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện P; - Chi cục thi hành án dân sự h.Quỳnh Phụ; - Nơi ĐKKH: UBND xã Q; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Duyên |