- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Trung K-Trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HSST Ngày 10 /3/ 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Dũng
2. Bà Đinh Thị Thanh Thủy – Nguyên Bí thư Đoàn thanh niên phường Chánh Lộ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:38/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung K, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2006, tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn C, con bà Phan Thị Thanh T, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến ngày 16/01/2023 cho bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trung K là ông Nguyễn Tấn C, bà Phan Thị Thanh T (Ông C, bà T là cha mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Trung K), ông C có mặt, bà T vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung K là ông Nguyễn Công T – Luật sư trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
Bị hại: Ông Võ Tấn L, sinh năm 1995, trú tại : Thôn Q, xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Q, xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/11/2022, anh Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B2-388.57 chở Nguyễn Trung K đến viếng đám tang tại nhà ông C ở thôn Q, xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi viếng đám tang K mượn xe của Đ đi về nhà ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K điều khiển xe quay lại đám tang và trả xe cho anh Đ. K thấy nhiều xe máy dựng ngoài đường trước đám tang không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong cốp xe. K đi ra khu vực dựng xe thấy xe mô tô biển kiểm soát 76B1-313.68 của ông Võ Tấn L nên K dùng tay phải dỡ yên, luồn tay trái vào cốp xe lấy một chiếc ví da màu đen. K giấu chiếc ví ở bụi cỏ gần đó rồi vào lại đám tang. Khoảng 22 giờ cùng ngày, K mượn xe của anh Đ đến lấy chiếc ví và điều khiển xe đến khu vực G thuộc thôn Q, xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, K mở chiếc ví ra xem thấy trong ví có tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) gồm 05 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và một số giấy tờ tùy thân của ông L. K lấy số tiền trên và vứt bỏ chiếc ví cùng một số giấy tờ tùy thân của ông L tại bụi cây. Sau đó, K điều khiển xe đi về nhà cất giấu số tiền đã trộm được rồi điều khiển xe quay lại đám tang trả cho anh Đ. Lúc này, ông L ra xe đi về thì phát hiện bị mất chiếc ví để trong cốp và nghi K lấy nên ông L đến Công an xã Tịnh Hòa trình báo sự việc. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã T đến hiện trường mời K làm việc. K khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông L và dẫn Công an xã T đến khu vực G thu giữ chiếc ví và về nhà thu giữ số tiền 2.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi kết luận: Chiếc ví da có trị giá là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Trung Kchiếm đoạt là: 2.650.000đ.
Bản cáo trạng số 37 /CT-VKS ngày 16/01/2023 , Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h (gây thiệt hại không lớn), i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 100 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Trung K từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến 16/01/2023. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.
Bị cáo Nguyễn Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được tại ngoại để lao động phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng và gây trở ngại đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngày 16/11/2022, Nguyễn Trung K đã lén lút trộm 01 chiếc ví bên trong có số tiền: 2.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân của ông Võ Tấn L, chiếc ví da có trị giá là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Trung K chiếm đoạt có giá trị là 2.650.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Trung K đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với người khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung Kiệt đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã trả lại tài sản chiếm đoạt cho người bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răng đe bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, lao động để trở thành công dân tốt, đồng thời cũng thể hiện chích sách khoan hồng của pháp nên cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không ai có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và tình tiết phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/3/2023).
Giao Nguyễn Trung K cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp Nguyễn Trung K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc buộc bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP Quảng Ngãi; - Công an TP Quảng Ngãi; - CQTHAHS CATP Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Chi cục THADS TP Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Nam |