vanban.org

Bản án 24/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 19/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức Ng 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; (bị cáo có thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-12-2022 đến ngày 09-01-2023). Giao bị cáo Vũ Đức Ng cho Uỷ ban nhân dân xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức Nguyên - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đức Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HSST
Ngày: 19-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Đức Ng, sinh năm 2002; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 2, xã X, huyện Xuân Tr, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 12/12; con ông: Vũ Đức Th, sinh năm 1977 con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh chị em bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-12-2022 sau đó chuyển tạm giam đến ngày 09-01-2023 bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp bảo lĩnh; (Có mặt).

Bị hại: Chị Phạm Thị Phương Th, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số nhà 31 A, ô 18, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đức Ng tự chế 01 thanh kim loại dẹt dài khoảng 08cm, rộng khoảng 0,5 cm để mở cốp xe máy trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21-12-2022, Ng đi đến bệnh viện Nhi Nam Định, địa chỉ 16 H, phường Ng, thành phố N rồi xuống khu vực nhà để xe của nhân viên Bệnh viện. Quan sát xung quanh vắng người qua lại, Ng tiến lại gần chiếc xe máy Honda Lead, biển kiểm soát 18B1-394.36 của chị Phạm Thị Phương Th, sinh năm 1986, trú tại 31A, Ô18, phường H, thành phố N sử dụng 01 thanh kim loại tự chế mở cốp xe máy thấy có 01 chiếc túi xách bằng vải, màu đen, bên trong có 11.000.000đ (Mười một triệu đồng), 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 (đều đã qua sử dụng). Ng lấy số tiền trên bỏ vào túi quần sau bên phải và giấu chiếc túi xách có 02 chiếc điện thoại của chị Th vào trong áo. Đúng lúc này, bảo vệ của Bệnh viện đã phát hiện, bắt quả tang hành vi trộm cắp của Ng.

Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 86/KL-HĐĐGTS ngày 26-12-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, định giá chiếc điện thoại Samsung Galaxy A10S màu xanh và chiếc điện thoại Galaxy J7 màu vàng có giá trị tổng cộng 1.800.000đ. Chiếc túi vải màu đen là tài sản đã cũ, không có giá trị nên chị Th không đề nghị Cơ quan điều tra định giá tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối với thanh kim loại Ng sử dụng làm công cụ để mở cốp xe, Ng khai đã vứt xuống cống thoát nước khi bị bắt quả tang, do đó Cơ quan điều tra chưa thu hồi được.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 228/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 10-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Vũ Đức Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức Ng khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ Ng nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Vũ Đức Ng từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vấn đề dân sự: Chị Phạm Thị Phương Th đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo Vũ Đức Ng không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Do thiếu hiểu biết mà phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đức Ng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21-12-2022, tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, địa chỉ số 16 đường H, phường Ng, thành phố N, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Phạm Thị Phương Th số tiền 11.000.000 đồng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10S trị giá 1.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 trị giá 600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 12.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo Vũ Đức Ng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích tư lợi, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bị cáo có nhân thân tốt không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài hành vi phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản không có yêu cầu gì khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ phân tích trên xét thấy: Cần áp dụng hình phạt tù nhưng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật nên quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, bản thân bị cáo còn đang đi học nên sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về bồi thường dân sự: Chị Phạm Thị Phương Th đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có ý kiến gì khác nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Vũ Đức Ng bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức Ng 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; (bị cáo có thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-12-2022 đến ngày 09-01-2023).

Giao bị cáo Vũ Đức Ng cho Uỷ ban nhân dân xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Trường hợp bị cáo Vũ Đức Ng thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của pháp luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vũ Đức Ng phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Đức Ng có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Bị cáo;

- Toà án nhân dân tỉnh Nam Định;

- Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định;

- Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định;

- Công an TP. Nam Định;

- Lưu Hồ sơ;

- Lưu VP.

Trần Công Khánh

Cỡ chữ