vanban.org

Bản án 24/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN H
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2023/HSST
Ngày 25/4/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hà

Chức vụ, nghề nghiệp: Bí thư đoàn xã L, huyện H

Ông Nguyễn Văn Thư

Chức vụ, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí xã T, huyện H

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn H; sinh ngày 14/5/2005 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Ngô Thái H, sinh ngày 12/4/2007. Có mặt.

Người đại diện: Bà Lê Thị X, sinh năm 1981. Có mặt.

Địa chỉ: Phố Đ, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Trương Thanh V, sinh ngày 01/4/2008. Có mặt.

Người đại diện: Ông Trương Thanh C, sinh năm 1977. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

3. Anh Đinh Thế H, sinh ngày 01/02/2007. Vắng mặt.

Người đại diện: Ông Đinh Thế T, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

4. Anh Hoàng Văn L, sinh ngày 21/4/2007. Có mặt.

Người đại diện: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1983. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Người làm chứng:

1. Anh Trương Quốc H, sinh ngày 19/9/2006. Có mặt.

Người đại diện: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Nguyễn Trọng P, sinh ngày 14/8/2006. Có mặt.

Người đại diện: Bà Ngô Thị P, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Đỗ Tất C, sinh ngày 28/6/2006. Có mặt

Người đại diện: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1977. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

4. Anh Nguyễn Quang H, sinh ngày 24/10/2005. Có mặt.

Người đại diện: Bà Trương Thị H, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

5. Anh Trương Đình K, sinh ngày 18/02/2006. Có mặt.

Người đại diện: Anh Trương Đình T, sinh năm 2000 (anh trai K). Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh Trương Văn N, sinh ngày 16/10/2006. Vắng mặt.

Người đại diện: Chị Trương Thị Mai H, sinh năm 2000 (Chị gái N). Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

7. Anh Đỗ Xuân D, sinh ngày 19/10/2006. Có mặt.

Người đại diện: Ông Đỗ Xuân B, sinh năm 1977. Vắng mặt.

8. Anh Trương Văn B, sinh ngày 01/9/2006. Có mặt.

Người đại diện: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

9. Anh Lê Xuân U, sinh ngày 14/4/2002. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h30’ ngày 31/12/2022 Nguyễn Văn H, Trương Thanh V, Đinh Thế H và Hoàng Văn L đi tìm người có tên trên mạng xã hội Facebook là “T Plus” để đánh nhau thì tất cả đồng ý, do H và người có tên trên mạng xã hội Facebook là “T Plus” có mâu thuẫn với nhau từ trước và nhắn tin trên điện thoại hẹn đánh nhau. Khi đi V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6 - 559.01 chở H cầm đoạn gậy sắt có gắn dao bầu dài 105,2 cm và H ngồi sau cầm đoạn gậy sắt tròn rỗng bằng kim loại màu xám, dài 86,2 cm; còn L điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 36AC - 031.22 chở H ngồi sau. Sau đó, H đưa gậy sắt cho H cầm và cả nhóm đi trên đường Quốc lộ 10 hướng về thị trấn H, huyện H. Khi đi đến đoạn đường gần sân vận động huyện H thì cả nhóm nhìn thấy có người điều khiển xe mô tô đang đi ngược chiều giống T Plus và đông người nên cả nhóm quay lại để đi về huyện H. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn V, xã M, huyện H, H kéo lê đoạn gậy sắt trên đường dài khoảng 100 mét làm tóe lửa và phát ra âm thanh leng keng; cả nhóm đi về xã H, huyện H và mua xăng đổ vào xe mô tô.

Sau đó, Vũ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6 - 559.01 chở H và H ngồi sau cầm đoạn gậy sắt và viên gạch để ở yên xe mô tô; còn Long điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 36AC - 031.22 chở Hảo ngồi sau cầm gậy sắt gắn dao bầu tiếp tục quay sang huyện H để tìm người tên “T Plus” để đánh nhau. Khi cả nhóm đi đến đoạn đường Quốc lộ 10 thuộc thôn V, xã M, huyện H, H nhìn thấy anh Trương Quốc H và anh Nguyễn Trọng P đang đi ngược chiều nên H nghĩ đây là nhóm của “T Plus”, H hô “bọn nó đây rồi, quay lại đuổi theo chúng”, V và L quay xe mô tô lại đuổi theo anh P và anh H được khoảng 20m thì đuổi kịp xe mô tô của anh H. Lúc này, Hảo cầm đoạn gậy sắt có gắn dao chém về phía anh H, H cầm đoạn gậy sắt vụt về phía anh H nhưng không trúng, còn H cầm gạch ném về phía anh H thì anh H và anh P quay xe mô tô lại bỏ chạy.

Khi nhóm của H đuổi theo anh H và anh P thì anh Đỗ Tất C, anh Nguyễn Quang H, anh Trương Đình K, anh Trương Văn N, anh Đỗ Xuân D và anh Trương Văn B đến để can ngăn; nhóm của H quay đầu xe mô tô lại bỏ chạy đến đoạn đường ngã ba thuộc thôn T, xã M, huyện H thì dừng lại nhặt gạch để tiếp tục đánh nhau, còn V bẻ cán cờ phật cắm bên đường để lấy gậy tre đánh nhau. Khi cả nhóm đang nhặt gạch, thì nhóm của anh C đến nên V điều khiển xe mô tô chở theo H và H; H bỏ chạy, còn L bị giữ lại và anh H tát vào mặt L nhưng không gây thương tích gì. Nhóm của H tiếp tục quay lại thách đố nhóm của anh C đánh nhau, cùng lúc này anh Lê Xuân Ú điều khiển xe mô tô đi chơi về qua và chở anh Nguyễn Quang H đuổi theo nhóm của H thì bị H cầm đoạn gậy sắt có gắn dao bầu khua về sau, anh Ú tránh nên xe mô tô loạng choạng ngã xuống đường làm anh Ú bị thương tích. Sau đó, anh Ú được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện H khám và điều trị.

Tại bản kết luận giám định số 504/KL-KTHS ngày 19/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

01 ống hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu xám không có số kí hiệu dài 86,2 cm trong vụ trên gửi đến giám định không thuộc vũ khí.

01 vật bằng kim loại không có số kí hiệu dài 105,2 cm trong vụ trên gửi đến giám định thuộc loại có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí thô sơ.

Tiến hành làm việc với chính quyền địa phương xác định: Hành vi của nhóm Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã cầm gậy sắt cà xuống đường làm tóe lửa, gây ra các tiếng leng keng, cầm gạch, giật cờ phật giáo đang cắm ở rìa đường để lấy gậy tre đuổi đánh người dân đang đi xe mô tô trên đường Quốc lộ 10 đã gây nguy hiểm đến sức khỏe, làm cho người dân hoang mang lo sợ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên chính quyền địa phương đề nghị xử lý nghiêm hành vi nêu trên.

Về vật chứng của vụ án: 01 ống hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu xám dài 86,2 cm; 01 vật bằng kim loại dài 105,2 cm; 01 xe gắn máy và 01 đăng ký kiểm soát 36AC - 031.22 mang tên anh Hoàng Văn L là vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện H để bảo quản, thi hành theo bản án.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36F1 - 381.87 là của anh Lê Xuân Ú và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B6 - 559.01 là của bà Lê Thị X (mẹ đẻ Ngô Thái H), việc H sử dụng đi đánh nhau bà X không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.

Trong vụ án này có Ngô Thái H, Trương Thanh V, Đinh Thế H và Hoàng Văn L là những người cùng thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng với bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng thì Ngô Thái H, Trương Thanh V, Đinh Thế H và Hoàng Văn L là người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 16 tuổi) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với anh Trương Quốc H, anh Nguyễn Trọng P và anh Lê Xuân Ú là những người bị đánh gây thương tích nhẹ, không có yêu cầu gì và đã tự nguyện làm đơn từ chối giám định mức độ tổn hại sức khỏe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm.

Cáo trạng số 27/CT-VKSHL ngày 10/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại 01 cho Hoàng Văn L 01 xe gắn máy và 01 đăng ký kiểm soát 36AC - 031.22 mang tên anh Hoàng Văn L, tịch thu tiêu huỷ 01 ống hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu xám dài 86,2 cm; 01 vật bằng kim loại dài 105,2 cm.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo tại địa phương.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H là bà Lương Thanh V nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đồng thời bị cáo luôn chấp hành và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú nên đủ khả năng tự cải tạo thành công dân tốt. Bên cạnh đó bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nơi cư trú rõ ràng nên việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết. Vì vậy, TGVPLđề nghị HĐXX, đại diện VKS xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện tiếp tục hòa nhập cuộc sống cộng đồng, trở thành người công dân tốt cho xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự xử cho bị cáo mức hình phạt phù hợp và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 20h30’ ngày 31/12/2022 tại đoạn đường Quốc lộ 10 thuộc thôn V, xã M, huyện H; nhóm của Nguyễn Văn H đã cầm gậy sắt cà xuống đường làm tóe lửa, gây ra các tiếng leng keng, cầm gạch, gậy tre đuổi anh Trương Quốc H, anh Nguyễn Trọng P và anh Lê Xuân Ú, làm ảnh hưởng đến người dân và những người tham gia giao thông, mặc dù khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhưng bị cáo cũng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự Công cộng, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người dân. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là gây náo động làm mất trật tự, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự trị an của khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân trên địa bàn. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến các quy tắc, sinh hoạt nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần phải có một hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình và bị cáo đã có công đóng góp ủng hộ quỹ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Tại thời điểm phạm tội bị cáo mới có 17 tuổi 07 tháng 17 ngày nên áp dụng Điều 91 của Bộ luật hình sự quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể xem xét cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương.

Vật chứng: Tại phiên tòa ông Hoàng Văn H là bố đẻ của anh Hoàng Văn L đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe gắn máy cho gia đình, vì chiếc xe gắn máy là do gia đình mua cho L và các em đi học, L chỉ đứng tên trong giấy đăng ký xe chứ không phải xe của L. Do đó trả lại cho ông Hoàng Văn H và anh Hoàng Văn L 01 chiếc xe gắn máy kiểm soát 36AC - 031.22 và 01 đăng ký xe mang tên Hoàng Văn L.

Đối với 01 ống hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu xám dài 86,2 cm; 01 vật bằng kim loại dài 105,2 cm đựng trong hộp bìa cát tông đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa cát tông dài khoảng 1,1m x 10cm x10cm niêm phong, có ghi PKT-HS-CA tỉnh Thanh Hoá, có đóng dấu đỏ và ký tên gồm: Trương Phạm D và Nguyễn Văn T.

Trả lại cho ông Hoàng Văn H và anh Hoàng Văn L 01 chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 36AC - 031.22 và 01 đăng ký xe mang tên Hoàng Văn L (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/BBVC-CCTHADS ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ