vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn G 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 19/09/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn G phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày: 15 – 02– 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Bà Võ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận

Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 276/2022/HSST ngày 30/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 30/01/2023 đối với bị cáo:

Đoàn Văn G; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1970 tại

Thành Phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường 01, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đoàn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1938; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Tôn Nữ Thúy H, sinh năm 1976; có 02 con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án: 02 tiền án – Ngày 15/01/2019 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm tù giam, về tội “ Trộm cắp tài sản” chấp hành án tại trại giam Xuân Lộc, ngày 03/10/2019 chấp hành xong hình phạt. Ngày 15/01/2021 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại trại giam An Phước, ngày 29/11/2021 chấp hành xong án phạt tù; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/09/2022. (có mặt).

Bị hại:

Ông Ngô Văn Quang L, sinh năm 1976; Địa chỉ: 234 Phan Huy Ích,

Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1990; Địa chỉ: 7F Nguyễn Kiệm, Phường 03,

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 14 giờ 40 ngày 19/9/2022, Đoàn Văn G gặp bạn tên M (chưa rõ

lai lịch) tại khu vực Siêu thị Metro, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, M điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở G đi uống cà phê. Khi chạy ngang nhà số Phường 14, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. M phát hiện và chỉ cho G thấy 01 chiếc xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám, biển số 60B4 - 315.73 của anh Ngô Văn Quang L đang để trong nhà, có cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe. M rủ G lấy trộm xe mô tô trên thì G đồng ý. M dừng xe, ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn, còn G xuống xe, một mình đi bộ vào nhà, lén lút lấy trộm, dắt xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám biển số 60B4-315.73 ra đường Phan Huy Ích để tẩu thoát. Đúng lúc này, anh L đang ở trong nhà, phát hiện hành vi của G nên chạy đến, dùng chân đạp G té ngã. G bỏ xe lại chạy bộ tẩu thoát. Anh L truy hô, trực tiếp đuổi theo và cùng quần chúng nhân dân xung quanh bắt giữ được G cùng vật chứng vụ án (xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám biển số 60B4 - 315.73) giao Công an phường 14, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng M chạy xe tẩu thoát.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Đoàn Văn G khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội nêu trên.

Đối tượng tên M đi trộm cắp tài sản cùng với G, G chỉ quen biết ngoài xã

hội không biết nhân thân lai lịch của G. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám, biển số: 60B4 -

315.73, số máy: JC52E-1046251, số khung: RLHJC5277DY054809. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 211/KL-HĐĐGTS, ngày 27/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận chiếc xe xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám, biển số: 60B4 - 315.73 trị giá 8.166.667 đồng (Tám triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tại thời điểm xảy ra vụ án.

Qua xác minh chủ sở hữu chiếc xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu

xám, biển số: 60B4 - 315.73 là chị Trần Thị Thu T (sinh năm: 1990, HKTT: thị trấn Định Quán, tỉnh Đồng Nai). Chị T xác nhận chiếc xe máy trên do chị đứng tên chủ sở hữu, bị mất vào tháng 9/2015 nhưng không trình báo sự việc. Làm việc với anh Ngô Văn Quang L xác nhận bản thân mua lại chiếc xe trên cuối năm 2016 từ cửa hàng xe máy (không nhớ địa chỉ) không có giấy tờ mua bán của cửa hàng và không biết chiếc xe trên là tài sản của người khác bị mất trộm. Ngày 13/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Gò Vấp đã trả tài sản là chiếc xe mô tô Honda Wave S màu trắng nâu xám, biển số: 60B4-315.73, cho chị Trần Thị Thu T. Chị T đã nhận lại tài sản của mình và không có thắc mắc, khiếu nại gì.

Về trách nhiệm dân sự: anh Ngô Văn Quang L xác nhận bản thân mua lại

xe Honda Wave S màu trắng nâu xám, biển số: 60B4-315.73 cuối năm 2016 từ cửa hàng xe máy (không nhớ địa chỉ) không có giấy tờ mua bán của cửa hàng và không biết chiếc xe trên là tài sản của người khác bị mất trộm. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe trên cho chị T anh L không ý kiến thắc mắc gì.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 29/12/2022 của Viện Kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Đoàn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và

đề nghị Hội đồng xét xử :

- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn G từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò

Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò

Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Đoàn Văn G đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù

hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Đoàn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất

cảnh giác của bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, bị cáo sẵn sàng phạm tội để có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Tài sản bị cáo trộm cắp là xe mô tô hiệu Honda Wave S qua định giá có giá trị là 8.166.167 đồng, mặt khác bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do đó cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ

quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình

sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm, còn bị hại ông L không ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về việc Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe trên cho bà T và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối với đối tượng tên M đi trộm cắp tài sản cùng với bị cáo G do chưa

xác định nhân thân lai lịch khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn G 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 19/09/2022.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng .

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính

kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có

thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhân:

Cỡ chữ