vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày 17-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng-Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng H, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1987 tại Đăk Lăk. Nơi cư trú: Tiểu khu V, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Vinh Q và bà Hoàng Thị P; có vợ là Nguyễn Thị T (Đã ly hôn), chưa có con. Tiền án; tiền sự, nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2011/HS-ST ngày 18/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành hành xong hình phạt chính ngày 05/11/2011, nộp án phí ngày 01/4/2011 (đã xóa án tích). Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2017/HS-ST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 54 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt chính ngày 27/01/2021 (chưa được xóa án tích).

Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện An Dương; có mặt

- Bị hại: Anh Vi Quang H, sinh năm 1992; ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Thôn N, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hoàng H là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang sống cùng chị Phạm Thị X, sinh năm 1989, trú tại bản S, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ở khu nhà trọ của bà Khiếu Thị H, sinh năm 1960, ở thôn L, xã L, An Dương, Hải Phòng. Khoảng 08 giờ ngày 20/8/2022, Hiệp đi vào nhà xe khu trọ, dùng chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha nhặt trước đó, mở được cốp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1- 069.65 của anh Vi Quang H, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã M huyện C, tỉnh Nghệ An, lấy được 01 giấy phép lái xe mang tên chị Kha Thị Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An (vợ của anh Hợp), 01 đăng ký xe của xe mô tô BKS 37C1- 069.65 rồi mang đến cửa hàng cầm đồ ở thôn Hoàng Lâu, Hồng Phong, An Dương, Hải Phòng của anh Trương Thế Sơn, sinh năm 1989, trú tại thôn Dụ Nghĩa, xã Lê Thiện, huyện An Dương cầm được 500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 08 giờ ngày 22/8/2022, do cần tiền để mua ma túy sử dụng, Hiệp lại vào nhà xe, dùng chìa khóa hôm trước mở được khóa điện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1- 069.65. H điều khiển xe đi đến cửa hàng cầm đồ của anh S thì gặp anh Lê Văn Đ, sinh năm 2005, trú tại thôn 1, H, H, An Dương, Hải Phòng. Sau khi anh Đ yêu cầu kiểm tra giấy tờ thì Hiệp nói đã cầm trước đó. Anh Đ kiểm tra thấy đúng nên gọi điện thoại cho anh Sơn và được anh S đồng ý để H cầm chiếc xe với số tiền 3.200.000 đồng. Sau đó, H thuê xe ôm đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn mua ma túy để sử dụng và dùng số tiền còn lại tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26/KL-HĐĐG ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Dương kết luận: 01 mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1- 069.65 trị giá 3.500.000 đồng.

Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã ra quyết định trả lại vật chứng bao gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1- 069.65 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vi Quang H pháp quản lý, sử dụng; 01 giấy phép lái xe trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Kha Thị Đ quản lý, sử dụng.

Đối với 01 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương để giải quyết theo vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vi Quang H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Chị Phạm Thị X đã thay bị cáo trả cho anh Trương Thế S số tiền 3.650.000 đồng, anh S không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSAD ngày 06 tháng 03 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hoàng H khai nhận về hành vi trộm cắp như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là do một mình bị cáo thực hiện, không có ai tham gia cùng.

Công bố lời khai của bị hại và người làm chứng có nội dung như bị cáo khai nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương trong phần luận tội, trên cơ sở phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng H với mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử lý lý theo quy định của pháp luật.

Sau khi nói lời sau cùng, bị cáo Phạm Hoàng H đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Hội đồng xét xử xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng bị thu và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 22/8/2022, tại thôn H, xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Phạm Hoàng H có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Vi Quang H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1- 069.65 trị giá 3.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nguyên nhân phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu ở địa phương. Do vậy phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 02 tiền án; Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2011/HS-ST ngày 18/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành hành xong hình phạt chính ngày 05/11/2011, nộp án phí ngày 01/4/2011 (đã xóa án tích), nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt; Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2017/HS-ST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 54 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt chính ngày 27/01/2021 tính đến thời điểm bị cáo phạm tội này (chưa được xóa án tích) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào nhân thân, tính chất hành vi phạm tội cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có 02 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng mức hình phạt ở mức khởi điểm theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng có đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Vi Quang H đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 37C1-069.65; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 giấy phép lái xe và không có yêu cầu gì khác, nên không xét.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tich thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Hoàng H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ