vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 13/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm Tội Môi giới mại dâm.

Xử phạt bị cáo Hà Văn M 10 (mười) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12-01-2023. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Mùi phạm tội Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm Tội Môi giới mại dâm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày: 13-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đoàn Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thao và bà Khương Thị Lơ;

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Hoàng Thanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2023/HSST ngày 22-2-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/HSST- QĐ ngày 02-3-2023, đối với bị cáo:

Hà Văn M, sinh năm 1995 tại xã N, huyện Đ, tỉnh N; ĐKHKTT: xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hà Văn X (tên gọi khác S) là thương binh loại A, hạng 4/4 (25%) và bà Phạm Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không.

Tiền sự: Quyết định số 22/QĐ-XPHC ngày 26-01-2022, Công an xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12-01-2023 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: anh Đặng Văn T, sinh năm 1995; chị Lường Thị P, sinh năm 1993; chị Bùi Thị H, sinh năm 1982; anh Phạm Đình Đ, sinh năm 1995; chị Trần Thị L, sinh năm 1987; chị Ngô Thị Thu N, sinh năm 1976 (Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Văn M thuê nhà của ông Vũ Đình N mở quán cà phê “Nhớ” tại thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Khoảng tháng 10/2022, M thuê chị Bùi Thị H, sinh năm 1982 và chị Lường Thị P (Nhi), sinh năm 1993 làm nhân viên. M thỏa thuận với chị H, chị P nếu khách đến uống nước có nhu cầu mua dâm thì M gọi để hai chị bán dâm và trực tiếp thu 400.000đ/1 lần/khách mua dâm, trong đó tiền nhà nghỉ 100.000đ, M hưởng 140.000đ, gái bán dâm hưởng 160.000đ. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10-01-2023, anh Đặng Văn T, trú tại thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và anh Phạm Đình Đ, trú tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đến cà phê Nhớ mục đích mua dâm. Tại quán T gặp M đặt vấn đề mua dâm, M đồng ý và bảo trả số tiền 400.000đ (bao gồm cả tiền thuê nhà nghỉ); T đưa cho M 500.000đ. Sau đó, M đưa cho P số tiền T vừa trả rồi bảo P đi bán dâm cho T, còn anh Đ ngồi tại quán chờ. M điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đỏ, BKS 14P8-9126 chở P sang nhà nghỉ Quý Dương tại thôn Quý Dương để bán dâm. Khi vào quầy lễ tân nhà nghỉ, P và T gặp chị Trần Thị L là quản lý nhà nghỉ, P trả chị L 100.000đ tiền thuê phòng, rồi cùng T lên phòng 201. Do nghi ngờ hai người vào mua bán dâm nên chị L đã trình báo Công an huyện Cẩm Giàng. Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi chị P và anh T đang mua bán dâm tại phòng 201 nhà nghỉ Quý Dương thì bị Công an huyện Cẩm Giàng kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, 01 bao cao su đã qua sử dụng, số tiền 400.000đ.

Ngày 11-01-2023, M giao nộp 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen, BKS 14P8-9126; chị L giao nộp 100.000đ và không yêu cầu nhận lại.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 20-02-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Hà Văn M về tội Môi giới mại dâm, theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo M và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Hà Văn M phạm tội Môi giới mại dâm. Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Văn M từ 10 tháng đến 12 tháng tù kể từ ngày bị tạm giam 12-01-2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung;

Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, 01 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ nhà nước 500.000đ. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 14P8-9126.

Về án phí: áp dụng: Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận đã nhận tiền từ anh T và giới thiệu cho chị P sang nhà nghỉ Quý Dương bán dâm cho anh T và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng; bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo xin mức hình phạt thấp nhất;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng (chị P, anh T, anh Đ) tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản vi phạm hành chính cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10-01-2023, tại quán cà phê Nhớ địa chỉ thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, Hà Văn M đã có hành vi làm trung gian môi giới, dẫn dắt chị Lường Thị P bán dâm cho anh Đặng Văn T nhằm thu lời bất chính. Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi chị P và anh T đang thực hiện hành vi giao cấu tại phòng 201 nhà nghỉ Quý Dương thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi làm trung gian dẫn dắt để chị P bán dâm cho anh T là trái pháp luật, nhưng vì muốn thu lợi một cách nhanh chóng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo và số tiền thu được đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, làm suy thoái đạo đức, gây mất trật tự trị an trên địa bàn xã Tân Trường. Ngay tại hợp đồng (miệng) thuê phòng trọ với chủ nhà ông N, bị cáo đã cam kết không bao che, chứa chấp các tệ nạn xã hội như hút chích, trai gái …nhưng bị cáo vẫn cố tình làm, thể hiện sự coi thường pháp luật, vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án nhưng hiện nay đang có tiền sự: Công an xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên xác định là người có nhân thân xấu; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; có bố là thương binh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, 01 bao cao su đã qua sử dụng được xác định là vật chứng trong vụ án, HĐXX tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Số tiền 400.000đ do chị Phấn giao nộp là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có, HĐXX tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 100.000đ là tiền cho thuê phòng do chị L quản lý nhà nghỉ giao nộp; chị L từ chối nhận lại nên sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Chiếc xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen, BKS 14P8-9126 của bị cáo M mua của một người không quen biết, là phương tiện để bị cáo chở gái đi bán dâm, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác:

Hành vi bán dâm của chị P, Công an huyện Cẩm Giàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Anh Đ đi cùng anh T nhưng không thực hiện hành vi mua bán dâm nên không đặt ra xử lý.

Đối với chị L là quản lý nhà nghỉ Quý Dương, sau khi nghi ngờ có việc mua bán dâm tại nhà nghỉ đã kịp thời trình báo với công an huyện Cẩm Giàng, nên không đặt ra xử lý.

Về án phí: bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm Tội Môi giới mại dâm.

Xử phạt bị cáo Hà Văn M 10 (mười) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12-01-2023.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ và 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen, BKS 14P8-9126;

- Tịch thu tiêu hủy một phong bì dán kín có chữ ký của người liên quan; bên trong có 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách, 01 bao cao su đã qua sử dụng.

(Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27-02-2023).

Về án phí: bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ