vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/201…

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích Quyền. Chị Trần Thị Bích Quyền được ly hôn với anh Lý Quang Hùng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/201…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12- 4-2023
“V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;

2. Ông Nguyễn Hoàng Tam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích Quyền, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số 361, Tổ 17, ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Lý Quang Hùng, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Số 197/1 Hương lộ 2, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Chị Quyền có mặt tại phiên tòa; Anh Hùng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Bích Quyền trình bày: Hôn nhân giữa tôi (Quyền) và anh Hùng do tự tìm hiểu, có tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn chung sống tại khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi (Quyền) yêu cầu ly hôn với anh Lý Quang Hùng.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Quyền và anh Hùng có 01 (một) con chung tên Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018. Hiện cháu Huy đang sống với chị Quyền, khi ly hôn chị Quyền yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Huy và không yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Lý Quang Hùng đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Hùng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa, anh Hùng vắng mặt, chị Quyền cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Hùng và chị xin rút lại yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử công bố các biên bản xác minh ngày 0811/2022. Cụ thể:

- Theo biên bản xác minh ngày 08/11/2022 tại Công an phường Long Châu, thị xã Tân Châu, được biết: Anh Lý Quang Hùng, sinh năm 1995 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 21, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu. Hiện nay anh Lý Quang Hùng đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương.

- Theo biên bản xác minh ngày 08/11/2022 tại Ban khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, được biết: Anh Lý Quang Hùng, sinh năm 1995 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 21, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu. Hiện nay Lý Quang Hùng đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương nhưng vào dịp Lễ, Tết thì có về địa phương. Về hôn nhân: Lý Quang Hùng và Trần Thị Bích Quyền kết hôn với nhau từ năm 2018, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Thạnh. Sau khi kết hôn thì Quyền-Hùng đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt tại địa phương nên mâu thuẫn của vợ chồng Quyền-Hùng địa phương không rõ. Về con chung: Quyền – Hùng có 01 (một) con chung tên Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018. Hiện nay con đang sống với ai địa phương không rõ. Về tài sản chung: Hiện nay vợ chồng Quyền-Hùng không có tài sản và nhà riêng ở địa phương.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại các Điều 195, Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa: Hôn nhân giữa chị Quyền và anh Hùng do tự tìm hiểu, có tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn chung sống tại khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Quyền yêu cầu ly hôn với anh Lý Quang Hùng là có căn cứ.

Về nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Quyền và anh Hùng có có 01 (một) con chung tên Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018. Hiện cháu Huy đang sống với chị Quyền, khi ly hôn chị Quyền yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Huy đề nghị HĐXX chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tại phiên toà chị Quyền không yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con chung, đề nghị HĐXX không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Hùng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến, nếu sau này giữa chị Quyền và anh Hùng có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích Quyền được ly hôn anh Lý Quang Hùng.

Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích Quyền được nuôi dạy cháu Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Lý Quang Hùng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Chị Quyền phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Bích Quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lý Quang Hùng. Anh Hùng có nơi cư trú: Số 197/1 Hương lộ 2, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Lý Quang Hùng được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Quyền và anh Hùng tự tìm hiểu, có tiến hành tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 19 tháng 12 năm 2018. Hôn nhân giữa chị Quyền và anh Hùng là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị Quyền khai, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu từ năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước, nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Quyền yêu cầu ly hôn với anh Lý Quang Hùng.

Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Tòa án đã tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị Quyền và anh Hùng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng anh Hùng vắng mặt và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Từ đó, cho thấy anh Hùng chưa thật sự hàn gắn tình cảm với chị Quyền.

Tình trạng vợ chồng chị Quyền và anh Hùng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị Quyền ly hôn với anh Hùng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị Quyền và anh Hùng có 01 (một) con chung tên Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018. Hiện cháu Huy đang sống với chị Quyền, khi ly hôn chị Quyền yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Huy và không yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi ly thân cho đến nay chị Quyền là người trực tiếp nuôi con. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và vì lợi ích của con Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xét, giao con chung cho chị Quyền được quyền nuôi dưỡng.

“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh Hùng có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị Quyền không yêu cầu anh Hùng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Quyền khai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, đồng thời chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh Hùng vắng mặt nên HĐXX không xem xét về tài sản chung của anh chị. Nếu anh Hùng chứng minh được vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu chia tài sản chung thì anh có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị Bích Quyền phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Đó cũng phù hợp với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích Quyền.

Chị Trần Thị Bích Quyền được ly hôn với anh Lý Quang Hùng.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86 ngày 19 tháng 12 năm 2018 do Uỷ ban nhân dân phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho chị Trần Thị Bích Quyền và anh Lý Quang Hùng không còn giá trị pháp lý.

Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích Quyền được nuôi dưỡng con chung tên Lý Quang Huy, sinh ngày 06/12/2018 cho đến khi cháu Huy trưởng thành và lao động được. Anh Lý Quang Hùng không phải cấp dưỡng nuôi con.

“Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh Hùng có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích Quyền phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006248 ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

“Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ”.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ