- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Sao M và Vũ Huy G"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56; Điều 57; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/7/2023 V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Huy Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và bà Vũ Thị Xuyến.
-Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/02/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2023 và quyết định hoãn phiên toà số: 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Đào Thị Sao M, sinh năm: 1991
Địa chỉ: khu H, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Vũ Huy G, sinh năm: 1988 Địa chỉ: tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/01/2023, tại bản tự khai nguyên đơn chị Đào Thị Sao M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị M và anh Vũ Huy G kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và vấn đề kinh tế, anh G không quan tâm đến vợ con, gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống rất căng thẳng, nặng nề không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 06 tháng, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị M đề nghị Tòa án cho chị M được ly hôn với anh Vũ Huy G.
Về con chung: chị M và anh G có 01 con chung là Vũ Huy M1 sinh ngày 23/5/2015. Khi ly hôn chị M muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị M và anh G có tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Vũ Huy G tuy nhiên anh Vũ Huy G vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không hợp tác.
Tại biên bản xác minh ngày 07/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh – Bà Vũ Thị T là mẹ đẻ của anh Vũ Huy G cung cấp sự việc: Hai vợ chồng chị M và anh G tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống hai vợ chồng con trai bà đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và trong vấn đề kinh tế, anh G không quan tâm đến gia đình vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân, chị M và cháu trai Vũ Huy M1 về nhà mẹ đẻ ở tại phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Tất cả các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Tòa án bà đã nhận thay con trai và có trách nhiệm thông báo cho anh G nhưng không hiểu lý do vì sao anh G không đến Tòa án để làm việc. Nay chị M có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 07/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Ông Nguyễn Văn T1 là khu trưởng khu D, phường Q, thành phố U cung cấp sự việc: Chị M và anh G là công dân cư trú tại tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống,anh G không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống chung không được hạnh phúc và không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị M cùng con trai về nhà mẹ đẻ ở. Nay chị M có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 BLTTDS.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn anh Vũ Huy G; Giao con chung Vũ Huy M1 sinh ngày 23/5/2015 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2023 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh G không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung: không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” bị đơn có nơi cư trú tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Vũ Huy G được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng anh G vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: chị Đào Thị Sao M và anh Vũ Huy G kết hôn vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng chị M, anh G không có hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh G không quan tâm đến gia đình, vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi vã, hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải tạo cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng nhau gỡ bỏ mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng anh G vẫn vắng mặt không lý do cố tình không hợp tác chứng tỏ anh G cũng không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với thực tế và có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị M và anh G có 01 con chung tên là Vũ Huy M1 sinh ngày 23/5/2015. Trong quá trình giải quyết, chị M muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, cháu Vũ Huy M1 thể hiện quan điểm nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ vì mẹ cháu có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục cháu tốt hơn bố cháu và hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ tại Hải Dương nên cháu không muốn thay đổi môi trường sống cũng như học tập của cháu. Mặt khác anh G vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con chung khi ly hôn. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản; anh G vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vấn đề tài sản.
Về án phí: chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56; Điều 57; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị Sao M về việc xin ly hôn với anh Vũ Huy G.
Tuyên xử:
1. Chị Đào Thị Sao M được ly hôn anh Vũ Huy G.
2. Về con chung: giao con chung Vũ Huy M1 sinh ngày 23/5/2015 cho chị Đào Thị Sao M trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Huy G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vũ Huy G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh G lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh G.
3. Về án phí: chị Đào Thị Sao M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị M đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007013 ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP Uông Bí; - Chi cục THADS TP Uông Bí; - UBND phường Quang Trung, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu án văn + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Huy Hùng |