vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị Th, xử cho chị Phan Thị Th và anh Nghiêm Văn H được ly hôn.

Về con chung: Giao 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B, sinh ngày 29/01/2011 và Nghiêm Văn Tuấn A, sinh ngày 01/8/2014 cho chị Phan Thị Th có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị Th, xử cho chị Phan Thị Th và anh Nghiêm Văn H được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 4 - 2023
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Hải Long

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hòa. Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 647/2022/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Th, sinh năm: 1987

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Thanh S, xã Nghi S, thị xã Nghi S, huyện Tĩnh G, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang tạm trú tại: số A, đường Võ Thị S, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nghiêm Văn H, sinh năm: 1984

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Thanh S, xã Nghi S, thị xã Nghi S, huyện Tĩnh G, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang tạm trú tại: số X, đường Nguyễn Thị Ng, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phan Thị Th trình bày, chị và anh Nghiêm Văn H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghi S, huyện Tĩnh G, tỉnh Thanh Hóa. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống của mỗi người khác nhau nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, từ tháng 08 năm 2021 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, chị và 02 con đã chuyển ra ngoài thuê nhà trọ để sinh sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Nghiêm Văn H không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nghiêm Văn H.

- Về con chung, chị và anh Nghiêm Văn H có 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B, sinh ngày 29/01/2011 và Nghiêm Văn Tuấn A, sinh ngày 01/8/2014. Hiện nay các con đang được chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi 02 con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung, chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nghiêm Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do và anh H cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình để gửi cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh H vắng mặt nên không hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị Th xác định tình cảm vợ chồng với anh H không còn nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H. Về con chung, chị có nguyện vọng được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị Th xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị Th. Về con chung, giao 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B và Nghiêm Văn Tuấn A cho chị Th có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con, về việc cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nghiêm Văn H đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt bị đơn anh Nghiêm Văn H theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Th kết hôn với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghi S, huyện Tĩnh G, tỉnh Thanh Hóa. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên toà, chị Th xác định không còn tình cảm với anh H và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn còn anh H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh H đã trầm trọng do vợ chồng không hợp nhau nên không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng luôn xảy ra xung đột, không hạnh phúc. Do mâu thuẫn kéo dài nên cả hai vợ chồng đã tự sống ly thân nhau, chị Th và 02 con đã chuyển ra ngoài thuê phòng trọ để sinh sống, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị Th, xử cho chị Phan Thị Th và anh Nghiêm Văn H được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị Th và anh H có 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B, sinh ngày 29/01/2011 và Nghiêm Văn Tuấn A, sinh ngày 01/8/2014. Hiện nay 02 con đang được chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Xét thấy, hiện nay cháu Ngọc B và cháu Tuấn A đang được chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý của trẻ nhỏ cần tiếp tục giao 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B và Nghiêm Văn Tuấn A cho chị Th có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Th không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị Th, xử cho chị Phan Thị Th và anh Nghiêm Văn H được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nghiêm Thị Ngọc B, sinh ngày 29/01/2011 và Nghiêm Văn Tuấn A, sinh ngày 01/8/2014 cho chị Phan Thị Th có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Phan Thị Th phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002315 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, chị Phan Thị Th đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ