- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của bà Phan Thị Thanh Phương đối với ông Ngô Đức Minh.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST G Ngày: 29-5-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Bá Bảo và bà Vũ Thị Lệ Thủy.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số : 34/2023/TLST- HNGĐ ngày 03/3/2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 25/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2023/QĐST- HNGĐ ngày 12/5/2023; giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thanh Phương, sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: Tổ 74, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: Số 12 Tuy Lý Vương, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Ngô Đức Minh, sinh năm 1986; Nơi ĐKNKTT: Tổ 74, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Phan Thị Thanh Phương trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Ngô Đức Minh xây dựng gia đình với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thọ Quang, quận Sơn Trà. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống tại tổ 74, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống, tôi phát hiện ông Minh có hành vi chơi cá độ và giao du với các đối tượng có biểu hiện giang hồ, xã hội đen thường xuyên đến nhà tôi quậy phá hăm dọa. Để bảo vệ hạnh phúc gia đình, tôi đã tha thứ và đồng ý bán tài sản để trả nợ cho ông Minh nhưng ông Minh vẫn không hồi tâm, chuyển ý, vẫn chứng nào tật ấy, không lo làm ăn, lo cho hạnh phúc gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vì vậy, chúng tôi đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình giải quyết nhưng không có kết quả. Nay tôi xác định tình cảm của tôi đối với chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng là ông Ngô Đức Minh.
- Về con chung: Tôi xác định giữa tôi và ông Minh có 01 con chung là Ngô Đức An, sinh ngày 07/01/2020. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định giữa tôi và ông Minh không có.
* Bị đơn ông Ngô Đức Minh đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông Minh trong hồ sơ vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.
- Về người tham gia tố tụng:
+ Đối với nguyên đơn - bà Phương: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn - ông Minh: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung: Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà Phương và ông Minh đã thật sự trầm trọng nên cần áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của bà Phan Thị Thanh Phương đối với ông Ngô Đức Minh.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Thanh Phương được ly hôn ông Ngô Đức Minh.
+ Về con chung: Giao con chung Ngô Đức An, sinh ngày 07/01/2020 cho bà Phương trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Minh không cấp dưỡng nuôi con do bà Phương không yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
- Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa bà Phan Thị Thanh Phương và ông Ngô Đức Minh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ông Ngô Đức Minh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Minh.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thanh Phương và ông Ngô Đức Minh xây dựng gia đình với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thọ Quang, quận Sơn Trà. Hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà Phương là do ông Minh có hành vi chơi cá độ và giao du với các đối tượng có biểu hiện giang hồ và không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã nhau nên bà và ông Minh đã ly thân nhau từ tháng 12/2021 đến nay. Nay bà Phương xác định tình cảm của bà đối với ông Minh không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Ngô Đức Minh.
Tại phiên tòa, bà Phương xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Minh. HĐXX xét thấy: Ngoài những mâu thuẫn vợ chồng như bà Phương trình bày, qua xác minh tại địa phương ngày 03/3/2023, thể hiện vợ chồng bà Phương hiện nay không sống cùng nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Phương là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận. Còn ông Minh đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến, ông không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình nên cần vận dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xử lý là phù hợp.
Về con chung: Bà Phương có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Đức An, sinh ngày 07/01/2020 cho đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy, hiện nay cháu Ngô Đức An chưa đủ 36 tháng tuổi nên việc giao con chung cho bà Phương trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con chung của bà Phương.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phương xác định giữa bà và ông Minh không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Phương phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ - ST theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ban hành ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của bà Phan Thị Thanh Phương đối với ông Ngô Đức Minh.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Thanh Phương được ly hôn ông Ngô Đức Minh.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của của Phan Thị Thanh Phương đối với ông Ngô Đức Minh nên giấy chứng nhận kết hôn số 193 do UBND do UBND phường Thọ Quang, quận Sơn Trà cấp ngày 09/9/2019 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao con chung Ngô Đức An, sinh ngày 07/01/2020 cho bà Phương trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Minh không cấp dưỡng nuôi con do bà Phương không yêu cầu.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phương xác định giữa bà và ông Minh không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
4. Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng bà Phan Thị Thanh Phương phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0003547 ngày 03/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Đương sự; - Viện KSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đông Thanh |