vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về hôn nhân: Bà Vũ Thị G được ly hôn đối với ông Nguyễn Ngọc T. Về con chung: Bà G và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Hai bên thống nhất giao hai con chung cho bà G trực tiếp nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Vũ Thị G khỏi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” Ông Nguyễn Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 4 - 2023.
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Mỳ.

2. Bà Nguyễn Ngọc Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan là Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 600/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị G, sinh năm 1986;

Hộ khẩu thường trú: tổ 1, ấp 5, xã V, huyện V, tỉnh Đ.

Nơi cư trú: tổ 17, ấp 3, xã V, huyện V, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979;

Nơi cư trú: số 35, tổ 1, ấp 5, xã V, huyện V, tỉnh Đ.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn bà G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà tự nguyện kết hôn với ông T vào năm 2009, có đăng ký hôn tại UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông T bài bạc, đánh đập bà G. Hiện nay hai vợ chồng bà đã ly thân với nhau, bà xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm với vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: bà và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Hiện nay cả 02 con đang sống chung với bà G, ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Về cấp dưỡng bà không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông T quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông tự nguyện kết hôn với bà G vào năm 2009 tại UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không hiểu nhau, bà G không đồng tâm cộng khổ với ông, chỉ vun vén nhà ngoại nên ông buồn mới xẩy ra cờ bạc, từ khoảng tháng 8/2022 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và đã ly thân với nhau từ đó đến nay. Bà G xin ly hôn ông không đồng ý vì ông theo đạo công giáo không được phép ly hôn. Ông đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương theo yêu cầu của bà G.

Về con chung: ông và bà có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Hiện nay cả 02 con đang sống chung với bà G, trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn ông đồng ý giao 02 con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và các thủ tục tố tụng khác đúng Điều 93 đến Điều 97, Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", Thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu theo Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, tư cách tham gia tố tụng đúng Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, tống đạt các văn bản tổ tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đúng Điều 203, khoản 2 Điều 220, Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tung dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng các Điều 230, 240, 241, 242, 243, 240, 247, 240, 250, 251, 252, 255, 254, 255, 250, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: bà G và ông T trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G.

Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Hai bên thống nhất giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi con. Ông T không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.

Về án phí: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T cư trú tại xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện đăng ký kết hôn có giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà G khởi kiện ly hôn nên Tòa án áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn xảy ra từ nhiều năm, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột, không chăm lo cuộc sống gia đình, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Giữa hai vợ chồng đã tìm cách hòa giải, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cả bà G và ông T đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng hiện nay sống ly thân nhau không còn chung sống với nhau nũa. Bà G yêu cầu ly hôn, ông T không đồng ý, tuy nhiên từ lúc hai vợ chồng có mâu thuẫn cho đến nay ông T không có biện pháp gì để hai vợ chồng khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn.

Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa các đương sự là có thật, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn theo các Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Về con: bà G và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Ly hôn hai bên thống nhất giao hai con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của hai con chung cũng mong muốn sống chung với bà G.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên thống nhất không phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Sau khi ly hôn ông T được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà G và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét, giải quyết

Về nợ chung: Bà G và ông T khai không có, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Vũ Thị G khởi kiện về ly hôn nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân dân sự;

- Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về hôn nhân: Bà Vũ Thị G được ly hôn đối với ông Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: Bà G và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Thúy V, sinh ngày 16/10/2010 và Nguyễn Ngọc Thúy V1, sinh ngày 06/08/2014. Hai bên thống nhất giao hai con chung cho bà G trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con hai bên thống nhất không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn ông T được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Nguyên đơn bà Vũ Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004807 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ