- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lương Thị S và ông Hoàng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 24/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình,
Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị S, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Tổ 2, T2, xã C, thành phố C, tỉnh Q, vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là bà Lương Thị S trình bày: Bà và ông Hoàng Văn H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, ông bà sống hòa thuận, hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên căng thẳng bất hoà. Mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã được gia đình và bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng không thành, quan hệ vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do mâu thuẫn căng thẳng, ông bà sống ly thân từ năm 1998 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể chung sống lâu dài với nhau, bà S đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông H. Ông bà có 01 con chung là Hoàng Văn H, sinh ngày 26/10/1988 (đã chết). Ông bà không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai, bị đơn (ông Hoàng Văn H) trình bày, xác nhận nội dung bà S khai về thời gian ông bà tự nguyện chung sống với nhau; không đăng ký kết theo quy định và nguyên nhân mâu thuẫn là hoàn toàn đúng. Ông bà đã sống ly thân năm 1998 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay bà S yêu cầu ly hôn ông H, ông H đồng ý. Ông bà có một con chung như bà S khai nhưng đã chết. Ông và bà S không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; không ai thay đổi quan điểm hay có văn bản thay đổi quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị S, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là ly hôn; ông Hoàng Văn H là bị đơn hiện đang cư trú tại: Thôn T, xã Đ huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn (bà S), bị đơn (ông H) vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà S, ông H.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị S và ông Hoàng Văn H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ vợ chồng giữa bà S và ông H không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình chung sống, ông bà sống hoà thuận được 10 năm thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nên ông bà đã sống ly thân từ năm 1998 đến nay, không quan tâm đến nhau. Xét thấy, ông H, bà S có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn. Vì vậy, cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà S, ông H.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Hoàng Văn H, sinh ngày 26/10/1988 (đã chết ngày 20/7/2019).
. Về tài sản chung: Ông bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Bà Lương Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lương Thị S và ông Hoàng Văn H.
2. Về tài sản chung: Không giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
3. Về án phí: Bà Lương Thị S phải bàu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà S đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006303 ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Bà S, ông H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Tiên Lãng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |