vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chị Phạm Thị N1 được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1.

Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Cẩm L, sinh ngày 05/4/2006 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/01/2012. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị N1 và anh T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chị Phạm Thị N1 được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 25- 7 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Thà;

2. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2023/TLST–HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N1, sinh năm: 1987;

HKTT: ẤP T2, xã T3, thành phố T4, tỉnh Tây Ninh.

Hiện cư trú tại: Tổ 4, ấp T5, xã T6, huyện T7, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Linh T1, sinh năm 1988;

Cư trú tại: Tổ 4, ẤP T5, xã T6, huyện T7, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Phạm Thị Nga trình bày:

- Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Linh T1 chung sống vợ chồng từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, thành phố T4, tỉnh Tây Ninh ngày 16/01/2008. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Linh T1.

- Về con chung: vợ chồng 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Cẩm L, sinh ngày 05/4/2006 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/01/2012. Hiện 02 con đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Linh T1 nhưng anh T1 cố tình vắng mặt nên không thể tiến hành làm việc lấy lời khai, hòa giải. Anh T1 phải chịu mọi hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Phạm Thị N1 và bị đơn anh Nguyễn Linh T1: vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị N1, chị N1 được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1; giao 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Cẩm L, sinh ngày 05/4/2006 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/01/2012 cho chị N1 nuôi dưỡng, ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung chị Nga và anh T1 không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chị N1 chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng: nguyên đơn chị Phạm Thị N1 có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Linh T1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị N1, anh T1.

Về hôn nhân: chị Phạm Thị N1 và anh Nguyễn Linh T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, thành phố T4, tỉnh Tây Ninh ngày 16/01/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống vợ chồng của chị N1 và anh T1 mâu thuẫn phát sinh do không hòa thuận, tính tình không hợp, thường xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Chị N1, anh T1 đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về việc vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N1 và anh T1 mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị N1, chị N1 được ly hôn với anh T1.

Về con chung: chị Phạm Thị N1 và anh Nguyễn Linh T1 có 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Cẩm L, sinh ngày 05/4/2006 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/01/2012. Cháu L và cháu H đều có nguyện vọng được sống với chị N1. Quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với anh T1 nên không thể hiện ý chí muốn được nuôi con của anh T1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao chị N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Nguyễn Cẩm L và cháu Nguyễn Gia H là hoàn toàn phù hợp. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Phạm Thị N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do đó đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên là có căn cứ.

[5] Về án phí: chị Phạm Thị N1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: chị Phạm Thị N1 được ly hôn với anh Nguyễn Linh T1.

2. Về nuôi con chung:

Giao chị Phạm Thị N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Cẩm L, sinh ngày 05/4/2006 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 04/01/2012. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Linh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Phạm Thị N1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Nguyễn Linh T1 không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Phạm Thị N1 và anh Nguyễn Linh T1 không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: chị Phạm Thị N1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004326 ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị Phạm Thị N1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ