- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Hà Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ – ST Ngày: 28/9/2023 V/v:Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Phong Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mong Thái Dương
2. Ông Bùi Đình Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST–HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 về việc “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2023/QĐ – TA ngày 07/9/2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Ngân Thị H, sinh năm 1997. Có mặt Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Bị đơn: Anh Hà Văn H, sinh năm 1994. Vắng mặt. Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2023; các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên toà, nguyên đơn chị Ngân Thị H bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị H và anh Hà Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào năm 2016. Trong thời gian chung sống thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không có con chung; thường xuyên cãi vã; hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Ngân Thị H viết đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn H
Về con chung: Chị Ngân Thị H và anh Hà Văn H không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Ngân Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Quế Phong đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định gồm: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; thông báo hoãn phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; giấy triệu tập cho anh Hà Văn H nhưng anh Hà Văn H không đến Toà án để làm việc, không nộp văn bản theo yêu cầu của thông báo thụ lý, không hợp tác để lấy lời khai của đương sự. Toà án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng bị đơn vẫn cố tình trốn tránh. Anh Hà Văn H không chuyển hộ khẩu hay cắt tạm trú, tạm vắng đi nơi khác nhưng vẫn không đến Toà án giải quyết vụ việc. Vì vậy Toà án lập biên bản không tiến hành hoà giải được và đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử : Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Hà Văn H. Về tài sản: Nguyên đơn chị Ngân Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Ngân Thị H theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Quế Phong nhận định:
Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngân Thị H và anh Hà Văn H là hợp pháp. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do không có con chung, tính tình không hợp, mỗi người có một lối sống, cách sống riêng, hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay. Như vậy chứng tỏ vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Hà Văn H.
Về con chung: Chị Ngân Thị H và anh Hà Văn H không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Ngân Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Ngân Thị H là người dân tộc thiểu số inh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 147; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Hà Văn H.
[2] Về án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Ngân Thị H.
[3] Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Quế Phong. - Chi cục THADS huyện Quế Phong. - UBND xã T. - Lưu hồ sơ vụ án - Lưu VPTA | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |