- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà N với ông N1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 3 - 2023 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Hoàng Tha.
2. Ông Thạch Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Hồng N, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- Bị đơn: Ông Võ Hữu N1, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Hồng N trình bày:
Vào năm 2011, bà Lâm Hồng N cùng ông Võ Hữu N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn hôn số 72, ngày 10/4/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và sống ly thân từ tháng 01 năm 2015 cho đến nay. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà Lâm Hồng N ông Võ Hữu N1 có một người con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012. Hiện con chung đang sống cùng với bà Lâm Hồng N. Bà Lâm Hồng N xác định vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Nay Bà Lâm Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà Lâm Hồng N yêu cầu được ly hôn với ông Võ Hữu N1.
- Về con chung: Bà Lâm Hồng N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 đến khi thành niên và không yêu cầu ông Võ Hữu N1 phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Lâm Hồng N đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
+ Căn cước công dân mang tên Lâm Hồng N (bản sao chứng thực);
+ Sổ hộ khẩu tên chủ hộ Lư Thanh B (bản sao chứng thực);
+ Trích lục kết hôn;
+ Bản sao chứng thực giấy khai sinh mang tên Võ Anh T;
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho bị đơn ông Võ Hữu N1. Nhưng ông Võ Hữu N1 thường xuyên không có mặt tại nhà và không có người nhận thay các văn bản tố tụng. Do đó việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 177 và 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Võ Hữu N1 không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Võ Anh T là con chung của bà Lâm Hồng N, ông Võ Hữu N1. Theo đó, cháu Võ Anh T có nguyện vọng được sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Bên cạnh đó Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.
* Tại phiên tòa hôm nay,
- Nguyên đơn bà Lâm Hồng N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông Võ Hữu N1, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và không yêu cầu ông Võ Hữu N1 phải cấp dưỡng cho con chung. Bà Lâm Hồng N xác định vợ chồng không có tài sản và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Võ Hữu N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Hồng N đối với ông Võ Hữu N1.
+ Giao con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 cho bà Lâm Hồng N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Ông Võ Hữu N1 không phải cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét.
+ Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 23/12/2022, bà Lâm Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Võ Hữu N1 có nơi cư trú tại Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn ông Võ Hữu N1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu của Nguyên đơn bà Lâm Hồng N về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, bà Lâm Hồng N cùng ông Võ Hữu N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tiến hành thủ tục đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 10/4/2012. Căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi bổ sung năm 2010 cũng như Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Hồng N và ông Võ Hữu N1 là hợp pháp.
Theo trình bày của bà Lâm Hồng N: Sau khi kết hôn vợ chồng bà Lâm Hồng N ông Võ Hữu N1 chung sống bên gia đình cha mẹ của bà Lâm Hồng N tại ấp A, xã B và có cuộc sống rất hạnh phúc. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau. Ông Võ Hữu N1 không quan tâm đến vợ và con. Bà Lâm Hồng N xác định không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng do mâu thuẫn đã quá trầm trọng và hôn nhân không thể tiếp tục được nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết sau đó vì ông Võ Hữu N1 thường xuyên không có mặt ở địa phương và không có người nhận thay văn bản tố tụng. Tuy nhiên ông Võ Hữu N1 không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà Lâm Hồng N đã xác định cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân do ông Võ Hữu N1 bỏ đi từ năm 2015 và không còn quan tâm đến vợ con cho đến nay. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng bà Lâm Hồng N, ông Võ Hữu N1 hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên ông Võ Hữu N1 không có mặt tại địa phương và đều vắng mặt. Việc này đã thể hiện ông Võ Hữu N1 không muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Lâm Hồng N cũng như bỏ mặc không quan tâm đến vợ và con. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hồng N cho bà Lâm Hồng N được ly hôn với cho ông Võ Hữu N1.
Về thời điểm chấm dứt hôn nhân: Theo khoản 1 Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình: “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Do đó quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 10/4/2012 do Ủy ban nhân dân xã B cấp của bà Lâm Hồng N và ông Võ Hữu N1 sẽ chấm dứt khi Bản án này có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Lâm Hồng N xác định thời gian chung sống, vợ chồng bà Lâm Hồng N và ông Võ Hữu N1 có một người con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012. Hiện nay con chung do bà Lâm Hồng N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Việc này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh mang tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 thể hiện là con chung của bà Lâm Hồng N, ông Võ Hữu N1.
Xét ý kiến của bà Lâm Hồng N về việc bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 hiện nay đang được bà Lâm Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, từ khi vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 đến nay con chung Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 đang được bà Lâm Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến nay. Ông Võ Hữu N1 cũng không có ý kiến gì cũng như không tranh chấp về việc này. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 cho bà Lâm Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Hồng N xác định hiện tại đang làm công nhân và có nguồn thu nhập ổn định mỗi tháng nên đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung và không cần ông Võ Hữu N1 phải cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bên cạnh đó ông Võ Hữu N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Lâm Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Lâm Hồng N có quyền kháng cáo bản án này 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án và ông Võ Hữu N1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hồng N.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Hồng N được ly hôn với ông Võ Hữu N1. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Hồng N ông Võ Hữu N1 theo giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 10/4/2012 do Ủy ban nhân dân xã B cấp sẽ chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung: Giao con chung tên Võ Anh T, sinh ngày 22/8/2012 (hiện nay con chung đang sống chung với bà Lâm Hồng N) cho bà Lâm Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Võ Hữu N1 không phải cấp dưỡng cho con. Ông Võ Hữu N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Lâm Hồng N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Võ Hữu N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3/ Về tài sản chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4/ Về nợ chung: Bà Lâm Hồng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005995, ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Như vậy bà Lâm Hồng N đã thực hiện xong). Ông Võ Hữu N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Hồng N có kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và ông Võ Hữu N1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng (P. KT, NV&THA); - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Thái Ngọc |