vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về quan hệ hôn nhân: Xử thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền A và anh Lý Việt L. Về con chung: Giao cháu Lý Hà P, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Lý Đức T, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Huyền A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 7 năm 2023 cho đến khi các con chung đủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huyền A xin ly hôn Lý Việt L"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27/7/2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên và bà Vũ Thị Huyền Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền A, sinh năm 1994, nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt

2. Bị đơn: Anh Lý Việt L, sinh năm 1990; Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số 1, đội 19 Trại giam T – C10 Bộ Công án; địa chỉ: Thôn T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; vắng mặt (có Đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền A trình bày:

Chị và anh Lý Việt L trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 09/02/2012 tại UBND xã B, huyện D (nay là UBND phường B, thị xã D), tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc được khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Vợ chồng chấm dứt quan hệ, sống ly thân từ năm 2019 khi anh L đi chấp hành án phạt tù. Nay chị xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị với anh L.

Quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 15/6/2023 bị đơn anh Lý Việt L cũng trình bày về điều kiện, thủ tục đăng ký kết hôn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và thời điểm vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 như chị Huyền A trình bày ở trên. Nay chị Huyền A đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung của vợ chồng: Chị Huyền A và anh L đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu: Lý Hà P, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Lý Đức T, sinh ngày 04/10/2014. Khi ly hôn chị Huyền A muốn trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Quan điểm của anh L trình bày anh không đồng ý để chị Huyền A nuôi 02 con chung, gia đình anh sẽ nuôi hai con chung và cũng không yêu cầu chị Huyền A phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Huyền A và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Huyền A giữ nguyên quan điểm của mình như yêu cầu khởi kiện ban đầu.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Xử thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền A và anh Lý Việt L. Giao cháu Lý Hà P, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Lý Đức T, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Huyền A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lý Việt L được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huyền A và anh Lý Việt L mỗi người phải chịu 150.000đ án phí LHST.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là anh Lý Việt L, tuy nhiên anh L đã có Đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Lý Việt L tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền A và anh Lý Việt L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn vào ngày 09/02/2012 tại UBND xã B, huyện D (nay là UBND phường B, thị xã D), tỉnh Hà Nam là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm với nhau, từ đó dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2019. Nay chị Huyền A xin ly hôn thì anh L cũng đồng ý. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Huyền A và anh L đã tồn tại trong một thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù giữ nguyên tình trạng sống ly thân như hiện nay của vợ chồng cũng không đem lại hạnh phúc. Vì vậy, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huyền A đối với anh Lý Việt L là phù hợp thực tế và quy định tại Điều 51, 55 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Chị Huyền A và anh L đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu: cháu Lý Hà P, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Lý Đức T, sinh ngày 04/10/2014. Khi ly hôn chị Huyền A và anh L đều có nguyện vọng muốn được nuôi hai con chung và không yêu cầu phía bên kia cấp dưỡng nuôi con.

Xét về điều kiện thực tế, nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự, nhận thấy: Hiện tại anh L đang phải chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, vì vậy cần giao 02 con chung cho chị Huyền A trực tiếp nuôi dưỡng. Sau này anh L chấp hành hình phạt tù trở về muốn thay đổi việc nuôi con thì anh L có quyền khởi kiện vụ việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Huyền A không yêu cầu nên anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Huyền A, anh L phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 51, 55, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền A và anh Lý Việt L.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Hà P, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Lý Đức T, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Huyền A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 7 năm 2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Lý Việt L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lý Việt L được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huyền A, anh Lý Việt L mỗi người phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Huyền Anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam theo Biên lai số 0001956 ngày 25/5/2023 được đối trừ khi thi hành án. Trả lại chị Nguyễn Thị Huyền A số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho chị Nguyễn Thị Huyền A có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lý Việt L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ