- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Trà P và cháu Trà Thị C; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày 16-6-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngoan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Hồng Loan.
Ông Nguyễn Văn Ngộ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị P, sinh năm 1975; Cư trú tại: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trà H, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 12 tháng 8 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị P trình bày:
Về hôn nhân: Chị P và anh Trà H tự nguyện sống chung vào tháng 02/2019, đến ngày 12/01/2012 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi chung sống thì anh chị chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên không còn hạnh phúc. Chị P và anh H sống ly thân từ tháng 3/2020 cho đến nay. Về hôn nhân: Chị P yêu cầu ly hôn với anh H; về con chung: trong thời gian chung sống chị P và anh H có hai con chung tên Trà P, sinh ngày 19/4/2010 và Trà Thị C, sinh ngày 30/5/2013, hiện nay cháu P và cháu C đang sống chung với chị P; về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nguyên đơn đã nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ: Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2012, do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 12/01/2012, họ và tên chồng Trà H, sinh năm 1984 và họ và tên vợ Lâm Thị P, sinh năm 1975 (bản chính); Giấy khai sinh số 204/2013, họ và tên Trà Thị C, sinh ngày 30/5/2013, họ và tên mẹ Lâm Thị P, sinh năm 1975, họ và tên cha Trà H, sinh năm 1984, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/10/2013 (bản sao đã đối chiếu đúng với chính); Giấy khai sinh số 49/2012, họ và tên Trà P, sinh ngày 19/4/2010, họ và tên mẹ Lâm Thị P, sinh năm 1975, họ và tên cha Trà H, sinh năm 1984, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 29/02/2012, đăng ký quá hạn (bản sao đã đối chiếu đúng với chính). Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã nộp được cơ quan có thẩm quyền cấp nên hợp pháp, đây là các tình tiết sự kiện không phải chứng minh phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn anh Trà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến hai lần mà vẫn vắng mặt không có lý do, anh H không gửi văn bản nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn cho Tòa án. Tại phiên tòa anh H vắng mặt, nên không có ý kiến trình bày.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án: kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về hôn nhân: xử cho chị P ly hôn với anh H; về con chung: giao con chung Trà Thị C và Trà P cho chị P nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: chị P không yêu cầu, đề nghị không xem xét; buộc nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn cư trú tại ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ tranh chấp: nguyên đơn chị Lâm Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi dưỡng con chung, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn chị Lâm Thị P vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét yêu cầu ly hôn của chị P. Chị P và anh H chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị có thời gian chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2020 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn sâu đậm. Chị P và anh H không chung sống cùng nhau từ tháng 3/2020 cho đến nay. Từ đó đến nay, anh chị không có liên hệ để hàn gắn tình cảm nhằm đoàn tụ xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Xét hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu ly hôn của chị P được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của chị P về con chung. Cháu Trà P, sinh ngày 19/4/2010 và Trà Thị C, sinh ngày 30/5/2013 hiện nay đang sống chung với chị P, chị P đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt các cháu, cháu P và cháu C đều có nguyện vọng sống với mẹ ruột là chị P. Chị P có công việc, thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con chung. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Trà P và cháu Trà Thị C cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu P và cháu C thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của chị P. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, anh H không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con, nên anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu giải quyết, anh H không có ý kiến đối với yêu cầu của chị P, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như đã phân tích ở trên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh H không chịu án phí; chị P phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị P.
1. Về hôn nhân: cho chị Lâm Thị P và anh Trà H ly hôn.
2. Về con chung: giao cháu Trà P và cháu Trà Thị C cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu P và cháu C thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của chị P. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu, anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh H không phải chịu án phí; chị P phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình, nhưng chị P được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005091 ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, chị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng.KTNV-THA); - UBND xã A; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thị Ngoan |