- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M.
- Căn cứ chính? Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-7-2023 Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH-TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Thu An
2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hạnh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nở - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Trong ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 30/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXX-ST ngày 02/6/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 49/QĐST-HPT ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Diệp Trà M, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú: tổ 7, ấp 6, xã M , thị xã C , tỉnh Bình Phước (có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Văn H, năm sinh 1979; Địa chỉ cư trú: Tổ 03, ấp 6, xã M , thị xã C , tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 24 tháng 02 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M trình bày:
Bà Lê Diệp Trà M và ông Phạm Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2020, đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã M , huyện C (nay thị xã C), tỉnh Bình Phước. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cải vã. Thời gian gần đây vợ chồng đã tự sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau. Nay bà M xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xin được ly hôn với ông Phạm Văn H để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung Phạm Gia H1, sinh ngày: 21/8/2021, bà M yêu cầu trực tiếp nuôi con, khi nộp đơn ly hôn, bà M có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà M rút yêu cầu cấp dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phạm Văn H trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M có mặt giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con, rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn ông Phạm Văn H vắng mặt lần thứ hai không lý do.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Việc chấp hành theo quy định của pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS;
Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm;
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, 51, 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27, Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho bà M được ly hôn với ông H, giao con chung Phạm Gia H1, sinh ngày: 21/8/2021 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, bà M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.]. Về thủ tục tố tụng:
.Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” do nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M khởi kiện đối với bị đơn ông Phạm Văn H có nơi cư trú tại: tổ 3, ấp 6, xã M , thị xã C , tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M, Hội đồng xét xử xét thấy:
.Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Diệp Trà M và ông Phạm Văn H tự nguyện chung sống với nhau từ 2020, đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã M , huyện C (nay thị xã C ), tỉnh Bình Phước. Việc kết hôn là do hai người hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, đe dọa, lừa dối. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống bà M cho rằng vợ chồng mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông H không quan tâm đến gia đình, con cái, vợ chồng đã tự sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau nên bà M xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông H không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà M, không tham gia các phiên hòa giải tòa án tổ chức thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm. Tại biên bản xác minh ngày 26/4/2023 được ban quản lý ấp 6, xã Minh Lập cho biết ông Phạm Văn H trước đây sống chung với bà Lê Diệp Trà M tại ấp 6, xã M , thị xã C , tỉnh Bình Phước nhưng thời gian gần đây vợ chồng mâu thuẫn ông H về sinh sống cùng cha mẹ ông H ở ấp 4, xã M . Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của bà M, ông H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà M, cho bà Lê Diệp Trà M được ly hôn với ông Phạm Văn H.
.Về con chung: Bà M, ông Hiệp có một con chung Phạm Gia H1, sinh ngày 21/8/2021, bà M yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Hiệp cấp dưỡng nuôi con. Ông Hiệp không có ý kiến với yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của bà M. Hơn nữa cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 21/8/2021 tính đến nay chưa được 36 tháng tuổi nên cần giao cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng con chung theo quy định tại khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra để HĐXX xem xét, giải quyết.
.Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
.Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do bà M là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 21/12/2016.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Diệp Trà M.
Về hôn nhân: Cho bà Lê Diệp Trà M được ly hôn với ông Phạm Văn H.
Về con chung: Giao con chung Phạm Gia H1, sinh ngày: 21/8/2021 cho bà Lê Diệp Trà M trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Diệp Trà M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0012207 ngày 01/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BP; - VKSND thị xã Chơn Thành; - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành; - UBND F. M , C, BP; - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Thị Thu Hà |