vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Ngọc Phương V, sinh ngày: 02/11/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn bà Trần Thị Thu Thảo ly hôn với ông Trần Văn Toàn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/8/2023
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thùy Trang

2. Ông Lâm Thành Danh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: 784 Tổ 16, ấp Bình P, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Tổ 22, ấp An H, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2023, bản tự khai ngày 20/02/2023, 21/3/2023 và các biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Trần Thị Thu T trình bày:

Bà và ông Trần Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, đến tháng 12 năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 162/2018 ngày 14/12/2018. Vợ chồng bà chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng không thể chia sẽ nhau, bà T dọn về nhà ba, mẹ ruột bà ở ấp Bình Phước, xã Bình Khánh, huyện Cần giờ, sau đó ông T năn nỉ cho cơ hội quay về ở nhà ba, mẹ ruột bà. Đến năm 2018, ông T bỏ nhà đi. Năm 2022 bà nộp đơn xin ly hôn với ông T nhưng do con còn nhỏ nên bà rút đơn cho ông T thêm cơ hội để hàn gắn gia đình theo Quyết định đình chỉ số 67/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân h, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng ông T vẫn không thay đổi, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và tình cảm không thể hàn gắn lại được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Ngọc Phương V, sinh ngày: 02/11/2018. Nếu được Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Toàn, bà có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Toàn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có.

Đối với bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông T không có ý kiến, đồng thời vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu ly hôn và nuôi con của bà T là chính đáng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Trần Thị Thu T có đơn xin ly hôn với ông Trần Văn T, sinh năm: 1997, hộ khẩu thường trú: Tổ 22, ấp An Hòa, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Quan hệ tranh chấp này là tranh chấp ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:

Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

Bà Trần Thị Thu T tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn.

Ông Trần Văn T tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.

Xét thấy bị đơn vắng mă ̣t lần thứ hai ta ̣i phiên tòa không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mă ̣t đương sự là phù hợp.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu T và ông Trần Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, đến tháng 12 năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 162/2018 ngày 14/12/2018. Như vậy hôn nhân giữa bà T và ông T được pháp luật công nhận. Xét thấy: Khi đã là vợ chồng thì cả hai phải cùng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình và chung lo cuộc sống nuôi dạy con cái; nhưng ông T không quan tâm đến vợ con, không thể hiện trách nhiệm làm chồng, làm cha, bỏ mặc bà T một mình phải nuôi con. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông T để tham gia hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ bỏ mặc và không có thiện chí hay biện pháp gì nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng tỏ rằng mâu thuẫn chung vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về quan hệ con chung: Bà T và ông T có 01 con chung là cháu Trần Ngọc Phương V, sinh ngày: 02/11/2018. Bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu V cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét yêu cầu của bà T là chính đáng và phù hợp vì hiện tại bà T đang trực tiếp nuôi cháu V, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T trực tiếp nuôi con.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Toàn cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về nợ chung và tài sản chung: Bà T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà T là có căn cứ, lời đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận.

Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Do bà Trần Thị Thu T là người nộp đơn xin ly hôn nên bà phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 71, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Ngọc Phương V, sinh ngày: 02/11/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Trần Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

4. Về nợ chung và tài sản chung: Ghi nhận lời khai của bà T trình bày không có nợ chung và tài sản chung.

5. Về án phí:

Bà Trần Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0046101 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bà Trần Thị Thu T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ