- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Ngọc - Khánh"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N đối với ông Trần Hoàng K về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 5 - 2023. V/v tranh chấp: Ly hôn giữa bà N và ông K. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tài
2. Ông Phạm Đức Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 301/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị N, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Trần Hoàng K, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 10 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Hoàng Thị N và bị đơn ông Trần Hoàng K trình bày:
* Về hôn nhân:
Bà N và ông K tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 31/12/2017. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm về cách nuôi dạy con, ông K hay nhậu nhẹt say sỉn rồi chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà, bà N đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N và ông K đều yêu cầu được ly hôn.
* Về con chung: Bà N và ông K trình bày vợ chồng chung sống có 01 người con chung là cháu Trần Hoàng Bảo C, sinh ngày 11/9/2018. Khi ly hôn bà N và ông K thỏa thuận giao con chung cho bà N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên; Bà N không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung: Ông K trình bày không có, còn bà N trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Bà N và ông K đều trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn bà Hoàng Thị N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N, xử cho bà Hoàng Thị N được ly hôn với ông Trần Hoàng K;
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà N về việc nhận nuôi dưỡng 01 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên; Ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung;
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến;
- Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Hoàng Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng giải quyết về việc tranh chấp “Ly hôn” với ông Trần Hoàng K. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Hoàng Thị N và bị đơn ông Trần Hoàng K vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông K tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 31/12/2017. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông K là hoàn toàn hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm về cách nuôi dạy con, ông K hay nhậu nhẹt say sỉn rồi chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà, bà N đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N và ông K đều yêu cầu được ly hôn. Vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, xử cho bà N được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà N trình bày vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Trần Hoàng Bảo C, sinh ngày 11/9/2018. Khi ly hôn bà N và ông K thỏa thuận giao con chung cho bà N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Xét thấy, hiện nay con chung đang còn nhỏ, ông K và bà N thỏa thuận giao con chung cho bà N nuôi dưỡng. Bà N cho rằng mình có đủ điều kiện về kinh tê để nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên. Vì vậy, để không ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại cũng như tâm lý của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà N về việc nhận nuôi con chung; giao 01 con chung là cháu Trần Hoàng Bảo C cho bà N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu nên ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông K trình bày không có, còn bà N trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về nợ chung: Bà N và ông K đều trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí: Bà N tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N đối với ông Trần Hoàng K về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Xử cho bà Hoàng Thị N được ly hôn với ông Trần Hoàng K.
2/ Về con chung:
Giao 01 con chung là cháu Trần Hoàng Bảo C, sinh ngày 11/9/2018 cho bà Hoàng Thị N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Trần Hoàng K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3/ Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng K trình bày không có, còn bà Hoàng Thị N trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
4/ Về án phí: Bà Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Hoàng Thị N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008657 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà Hoàng Thị N đã nộp đủ tiền án phí.
5/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/5/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - UBND xã L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Đức Trường |