- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07/02/2023 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thiện Hoàn;
2. Ông Nguyễn Thế Hùng.
- Thư ký ghi biên bản: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 491/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 876/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 2000; địa chỉ: Số nhà 220, tổ 7, ấp 5, xã N, huyện B, tỉnh Kiên Giang;
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ 29, ấp P, xã H, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa bà H vắng có đơn, ông S vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông S do tự tìm hiểu yêu thương nhau, tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Kiên Giang vào năm 2019.
Sau khi kết hôn, bà và ông S về chung sống với gia đình ông S tại ấp P, xã H, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra tranh cãi bất hòa, hôn nhân không hạnh phúc. Bên cạnh đó, ông S không có chính kiến và không có quan điểm lập trường riêng của mình, từ tài chính đến cuộc sống quan hệ cá nhân phải nhất định nghe lời cha mẹ dẫn đến cuộc sống của vợ chồng ngột ngạt và không hạnh phúc. Bà H đã vì con vì hạnh phúc gia đình nhiều lần góp ý mong ông S sửa đổi để vợ chồng hòa hợp nhưng ông S vẫn không thay đổi.
Vào khoảng tháng 02/2021, do mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng, không thể hàn gắn nên vợ chồng bà H và ông S đã không sống chung từ đó cho đến nay. Ông S và gia đình cũng không liên lạc để hàn gắn tình cảm cho ông bà. Nhận thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 22/8/2020 hiện đang do bà H nuôi dạy. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải tình cảm mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông S.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông S theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông S và bà H để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Về nơi cư trú: Theo Thông báo số định danh và thông tin cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã H cung cấp ngày 14/12/2022 xác định ông Nguyễn Văn S vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã H, huyện A, tỉnh An Giang.
Về mâu thuẫn hôn nhân: Bà Lê Thị A – mẹ ruột bà H cho biết hôn nhân đúng như bà H trình bày. Ông bà chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, ông S không chủ động kinh tế, nghe theo lời cha mẹ khiến cho vợ chồng tranh cãi bất hòa, tình cảm không còn hạnh phúc. Ông bà ly thân từ đó đến nay, ông S và gia đình cũng không liên hệ hàn gắn tình cảm. Nay bà H nhận thấy không còn tình cảm nên xin ly hôn với ông S thì bà không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bà H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng ông S đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà H chung sống với ông S đến năm 2021 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Ông S hiện có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện A, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, An Giang.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hôn nhân: Bà H và ông S xây dựng gia đình dựa trên sự tự nguyện, tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Kiên Giang vào ngày 26/8/2019 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà H vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông S. Ông S nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không đến thể hiện việc bỏ mặc không có ý định hàn gắn tình cảm với bà H.
Tại phiên tòa hôm nay bà H vắng mặt đã thể hiện việc kiên quyết ly hôn và không thể quay lại chung sống với ông S. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn ông bà phát sinh từ đầu năm 2021 đến nay cả hai không có giải pháp hàn gắn, gia đình hai bên để ông bà tự quyết định và nhìn nhận mâu thuẫn của ông bà dù có quay lại ông bà chung sống cũng không hạnh phúc.
Bà H cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bất đồng về kinh tế, ông S không chủ động kinh tế, không có chính kiến, từ tài chính đến cuộc sống, quan hệ cá nhân phải nhất định nghe lời cha mẹ dẫn đến cuộc sống của vợ chồng ngột ngạt và xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi thường xuyên. Mâu thuẫn vợ chồng ông bà phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị A là mẹ ruột của bà H. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà là trầm trọng, không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 22/8/2020 hiện đang do bà H nuôi dạy. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, cháu V do bà H nuôi dạy, chăm sóc, tình cảm mẹ - con gắn bó, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của các cháu sau này. Quan trọng hơn, cháu cháu Vy hiện chưa đủ 36 tháng tuổi nên việc tiếp tục giao con chung cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 100 ngày 26/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Kiên Giang mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Bích H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích H được tiếp tục nuôi dạy một con chung tên Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 22/8/2020. Công nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007918 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (bà H nộp đủ). Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/02/2023), thời hạn kháng cáo của bà H và ông S được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAT; - VKSH; - THAH; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu vp; - Lưu hs. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thảo Ngân |