- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp nuôi con chung sau ly hôn chị D anh H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THỊ!XÃ!SƠN!TÂY,!TP.!HÀ!NỘI! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 5 năm 2023 V/v: Tranh chấp nuôi con chung ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THỊ!XÃ!SƠN!TÂY!–!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hợi. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Ngọc Hà và ông Phùng Khắc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đ, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình về việc “Tranh chấp nuôi con chung“ sau ly hôn thụ lý số: 15/2023/TLST – HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2023 giữa đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim D, sinh năm: 1989, có mặt. ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Thôn H, phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Bùi Đ H, sinh năm: 1979, có mặt. ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố 08 Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.
NỘI!D!VỤ!ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Kim D trình bày:
Năm 2022, chị và anh H ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự tham gia hòa giải tại Tòa án số: 41/2022/QĐCNTTLH, ngày 18/5/2022, Tòa án đã giải quyết cho anh chị được ly hôn và giao 02 con chung là cháu Bùi Anh Đ, sinh ngày 01/02/2011 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 12/11/2013 cho anh H nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Thời điểm ly hôn cả hai cháu đều trình bày nguyện vọng được ở với bố nên các anh chị thỏa thuận như trên.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn trong quá trình nuôi dưỡng con chung anh H thường xuyên đi làm về muộn, không trực tiếp chăm sóc con chung và có việc đánh mắng các con, chị biết được là do các con chị và hàng xóm của anh H nói với chị D. Bên cạnh đó cháu C mong muốn được ở với mẹ; và anh H còn ngăn cản chị thăm nom, chăm sóc con chung.
Nay chị khởi kiện anh H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Minh C. Chị đồng ý vẫn giao anh Bùi Đ H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi Anh Đ.
Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Theo chị D trình bày hiện đang công tác tại Bệnh viện Quân y 105 – Khoa Y học Cổ truyền tại phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội với cấp bậc Thượng úy, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000,000 đồng/ tháng và có thu nhập thêm. Hiện chị ở cùng bố mẹ đẻ ở địa chỉ số 02/300 phố Lê Lợi, phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Gia đình chị sẽ tạo mọi điều kiện về nơi ăn chốn ở để chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Đ H trình bày:
Về nội D giải quyết nuôi con chung khi ly hôn tại Tòa án đúng như chị H trình bày. Sau khi ly hôn, hai cháu vẫn ở cùng anh ổn định, khỏe mạnh không có vấn đề gì. Nay chị D có đơn khởi kiện trình bày anh uống rượu, chửi bới đánh đập các con chung là không đúng sự thật. Yêu cầu Tòa án làm rõ.
Về yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Minh C của chị D anh H không đồng ý và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung vì chị D không đủ điều kiện nuôi con chung.
Anh H trình bày, hiện anh đang công tác tại Bệnh viện Quân y 105 – Khoa chống nhiễm khuẩn, cấp bậc Đại úy Quân nhân chuyên nghiệp, thu nhập hàng tháng từ lương là 10.292.920 đồng. Anh H hiện có nhà riêng tại địa chỉ số 26, Tổ dân phố 08 Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.
Do các cháu Bùi Anh Đ và Bùi Minh C đã trên 7 tuổi, anh H không đưa các con chung đến Tòa án để làm việc theo yêu cầu của Tòa án nên Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến cháu Anh Đ và cháu Minh C tại Trường học. Tại các Biên bản làm việc ngày 30/3/2023, cháu Bùi Minh C trình bày nguyện vọng được ở với mẹ do mẹ cháu có thể dạy cháu học bài và cháu thích ở với mẹ hơn, bố cháu vẫn chăm sóc cháu bình thường nhưng do bố thường xuyên đi làm nên ở nhà có người giúp việc trực tiếp chăm sóc cháu. Còn cháu Nguyễn Anh Đ trình bày nguyện vọng tiếp tục được ở với bố, quá trình ở với bố do hàng ngày bố đi làm nên có người giúp việc thường xuyên chăm sóc cháu. Bố có đánh mắng nhưng để giáo dục cháu, không làm tổn thương về thể chất và tinh thần của cháu.
Tòa án cũng tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh H tại Tổ dân phố 08 Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Tại Biên bản xác minh ngày 12/5/2022 tại Tổ dân phố 08 Vân Gia, đại diện chính quyền địa phương cho biết: Anh Bùi Đ H có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại số 26, Tổ dân phố 08 Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội cùng 02 con là cháu Bùi Anh Đ, sinh ngày 01/02/2011 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 12/11/2013. Anh H trước đây có kết hôn với chị Nguyễn Kim D, sau đó đã ly hôn. Sau khi ly hôn anh H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung phía chính quyền địa phương không nhận được kiến nghị, phản ánh hay can thiệp giải quyết mâu thuẫn về nuôi dưỡng con chung giữa chị D và anh H. Nay chị D yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, đây là việc riêng của anh chị, chính quyền địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật nhưng cần xem xét đến nguyện vọng của các con chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cháu theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tuy nhiên, do các đương sự không hòa giải được toàn bộ nội D vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Sau khi tóm tắt nội D vụ án, phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
+!Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+!Về nội D vụ án: Giao cháu Bùi Minh C cho chị Nguyễn Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Tiếp tục giao cháu Bùi Anh Đ cho anh Bùi Đ H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn cho cả chị D và anh H đến khi có quyết định, thay đổi khác. Về án phí, chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Kim D có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giải quyết việc thay đổi nuôi con. Xét thấy, anh Bùi Đ H là bị đơn có nơi cư trú tại phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn: Năm 2022, chị D và anh H ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự tham gia hòa giải tại Tòa án số: 41/2022/QĐCNTTLH, ngày 18/5/2022, Tòa án đã giải quyết cho anh chị được ly hôn và giao 02 con chung là cháu Bùi Anh Đ, sinh ngày 01/02/2011 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 12/11/2013 cho anh H nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Thời điểm ly hôn cả hai cháu đều trình bày nguyện vọng được ở với bố nên các anh chị thỏa thuận như trên. Nay chị D khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn với lý do anh H thường xuyên đi làm về muộn, không trực tiếp chăm sóc con chung mà do người giúp việc đảm nhận và thỉnh thoảng có việc đánh mắng các con khiến các cháu mong muốn được ở với mẹ. Ngoài ra, anh H còn ngăn cản chị thăm nom, chăm sóc con chung. Chị D trình bày hiện đang công tác tại Bệnh viện Quân y 105 – Khoa Y học Cổ truyền tại phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội với cấp bậc Thượng úy, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000,000 đồng/ tháng. Hiện chị ở cùng bố mẹ đẻ ở địa chỉ số 02/300 phố Lê Lợi, phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Gia đình chị sẽ tạo mọi điều kiện về nơi ăn chốn ở để chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Anh H không đồng ý yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung của chị D do chị D không đủ điều kiện nuôi con chung và anh H đang chăm sóc nuôi dưỡng con chung khỏe mạnh bình thường. Anh H trình bày hiện anh đang công tác tại Bệnh viện Quân y 105 – Khoa chống nhiễm khuẩn, cấp bậc Đại úy Quân nhân chuyên nghiệp, thu nhập hàng tháng từ lương là 10.292.920 đồng. Anh H hiện có nhà riêng tại địa chỉ số 26, Tổ dân phố 08 Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.
Khi được lấy ý kiến cháu Bùi Minh C có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Bùi Anh Đ có nguyện vọng được ở với bố.
Xét thấy nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị D và anh H đều chính đáng và cả hai đều có điều kiện để nuôi con theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên, sau một thời gian anh H được nuôi 02 con chung cho đến thời điểm hiện tại cháu Bùi Minh C có nguyện vọng tha thiết được ở với mẹ. Mặt khác, cháu Minh C là con gái nên cần có sự chăm sóc, giáo dục trực tiếp của mẹ nhiều hơn nên cần giao cháu C cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để đảm bảo việc sinh hoạt, học tập và sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm lý, tình cảm, đồng thời đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng cũng như nguyện vọng của cháu Bùi Minh C theo qui định của pháp luật. Bởi vậy, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị D và giao cho chị D được nuôi dưỡng cháu Bùi Minh C.
Do chị D không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H, chị D cho đến khi chị D, anh H có yêu cầu mới. Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Kim D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn: Giao cháu Bùi Minh C, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Nguyễn Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bùi Đ H đến khi chị D, anh H có yêu cầu khác.
Anh Bùi Đ H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. !!!!!!!!!2. Về án phí: Chị Nguyễn Kim D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây ngày 10/02/2023 theo Biên lai số AA/2020/0056606. Chị D không phải nộp án phí nữa !!!!!!!!!3.!Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Kim D và anh Bùi Đ H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây được quyền kháng nghị theo quy định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - Viện KSND TX.Sơn Tây, TP Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - Chí cục THADS TX. Sơn Tây; - Lưu HS vụ án và lưu VPTAST. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!toà! ! Bùi!Văn!Hợi ! |