vanban.org

Bản án 24/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với ông Nguyễn Văn Q.

2/ Buộc ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khoản nợ tính đến ngày 21/4/2023 là 26.043.274 đồng. Trong đó, vốn gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn 23.621.820 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 21/4/2023 ông Nguyễn Văn Q còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngan hàng Đ - Nguyen Van Q"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với ông Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/DS-ST
Ngày 21 tháng 4 năm 2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung

Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ

Trụ sở: Số M, P, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hải Đ – Nhân viên PTKH Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ Chi nhánh B Phòng Giao dịch L (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978

Địa chỉ: Khóm B, Phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn Q có đăng ký sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Ngân hàng) ngày 16/9/2013, theo đó ông Q được cấp hạn mức là 15.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 18% /năm, chịu thêm lãi quá hạn nếu không thực hiện thanh toán vốn lãi đúng hạn, lãi quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn.

Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang quá hạn từ ngày 26/4/2016.

Tính đến ngày 21/4/2023 ông Q còn nợ các khoản sau: Nợ gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn là 23.621.820 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Q trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 21/4/2023 là 26.043.274 đồng (trong đó, nợ gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn là 23.621.820 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay từ sau ngày 21/4/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ngày 16/9/2013 ông Q có đăng ký sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng, theo đó ông Q được cấp hạn mức là 15.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 18% /năm, chịu thêm lãi quá hạn nếu không thực hiện thanh toán vốn lãi đúng hạn, lãi quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn.

Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Q nhiều lần rút tiền và nhiều lần nộp tiền vào thẻ, sau đó không sử dụng thẻ tiếp. Bà Đặng Phương D là Giám đốc Phòng giao dịch L, Phường B, thành phố B xác định tổng số tiền ông Q còn nợ đến ngày 28/12/2021 là hơn 30.000.000 đồng, lúc này thẻ cũng đã bị khóa. Ngày 28/12/2021 ông Q đã thanh toán 28.000.000 đồng, còn nợ lại hơn 2.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng, ông Q chỉ đồng ý trả nợ gốc, không đồng ý trả lãi quá hạn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Buộc ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khoản nợ tính đến ngày 21/4/2023 là 26.043.274 đồng. Trong đó, vốn gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn 23.621.820 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 21/4/2023 ông Nguyễn Văn Q còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Về án phí ông Nguyễn Văn Q phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Q trả số nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ông Q có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Cho nên, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hợp đồng tín dụng:

Ông Nguyễn Văn Q có đăng ký sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Ngân hàng) ngày 16/9/2013, theo đó ông Q được cấp hạn mức là 15.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay 18% /năm, chịu thêm lãi quá hạn nếu không thực hiện thanh toán vốn lãi đúng hạn, lãi quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.

Do ông Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 26/4/2016 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn.

Ngân hàng xác định tính đến ngày 21/4/2023 ông Q còn nợ các khoản sau: Nợ gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn là 23.621.820 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông Q trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 21/4/2023 là 26.043.274 đồng (trong đó, nợ gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn là 23.621.820 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay từ sau ngày 21/4/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Ông Q chỉ thừa nhận còn nợ và đồng ý trả khoản tiền gốc, đối với khoản tiền lãi quá hạn ông Q không đồng ý trả, với lý do vào ngày 28/12/2021 nhân viên Ngân hàng xác định ông Q còn nợ số tiền là hơn 30.000.000 đồng, ngày 28/12/2021 ông Q đã thanh toán 28.000.000 đồng, còn nợ lại hơn 2.000.000 đồng; lúc này thẻ cũng đã bị khóa nên không thể phát sinh thêm lãi, phí nào khác.

Ngân hàng xác định ngày 21/10/2016 do ông Q không thanh toán nợ đúng hạn nên nhân viên Ngân hàng có làm việc với Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu (ông Q công tác tại đơn vị này) có nội dung là tính đến kỳ sao kê tháng 10/2016 số tiền ông Q phải thanh toán là 30.421.454 đồng. Đến ngày 28/12/2021 nhân viên Ngân hàng lập biên bản làm việc với ông Q có nội dung số tiền ông Q còn nợ là 30.421.454 đồng. Do nhân viên Ngân hàng có sự nhầm lẫn nên tính số tiền ông Q còn nợ sau 05 năm vẫn là 30.421.454 đồng. Trên thực tế số tiền 30.421.454 đồng này chỉ tính nợ gốc, lãi trong hạn, phí dịch vụ, chưa tính phần lãi quá hạn. Số tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 26/4/2016 đến nay là 23.621.820 đồng.

Căn cứ vào biên bản làm việc giữa đại diện Ngân hàng với đại diện Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu ngày 21/10/2016, với ông Q ngày 28/12/2021; sao kê quá trình sử dụng thẻ của ông Q, xét thấy lời trình bày của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Xét thấy hợp đồng tín dụng đã được ký kết đúng theo quy định pháp luật, yêu cầu trả tiền gốc, lãi quá hạn của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Văn Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với ông Nguyễn Văn Q.

2/ Buộc ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khoản nợ tính đến ngày 21/4/2023 là 26.043.274 đồng. Trong đó, vốn gốc là 2.421.454 đồng, lãi quá hạn 23.621.820 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 21/4/2023 ông Nguyễn Văn Q còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Văn Q phải chịu 1.302.164 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 641.000 đồng theo biên lai số 0008002 ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/ Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ