- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Quốc A bị truy tố về tội huỷ hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HS-ST Ngày: 17/3/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH TIỀN GIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Thuỷ.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Thu Yến;
2/ Ông Nguyễn Tất Ái;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Quốc A, sinh năm 1982, tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện V, tỉnh Tiền Giang; Số CMND: 311647075; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; bị cáo có một người em; bị cáo có vợ là Dương Thị Hồng D (đã ly hôn); bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại và bị cáo “Có mặt”.
* Người bị hại: Nguyễn Thị Mỹ B, sinh năm 1984 (Có mặt);
Nơi cư trú: Số 79/2 Ấp 4, xã H, thành phố Q, Tiền Giang.
* Người làm chứng:
1/ Huỳnh Văn E – sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp 3, xã H, thành phố Q, tỉnh Tiền Giang.
2/ Trần Hoàng S – sinh năm 1976 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Số 491 F, Phường G, thành phố Q, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc A và Nguyễn Thị Mỹ B chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà chị B. Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 08/10/2021, sau khi đi làm về, A gọi chị B ra mở cửa nhưng chị B không nghe. Sau khi mở được cửa vào nhà, nhìn thấy chị B đang ngồi uống bia, hát karaoke cùng anh Trần Hoàng E và anh Huỳnh Văn S, do ghen tuông nên Nguyễn Quốc A dùng tay đánh vào mặt, vào đầu và dùng chân đạp vào người chị B. Trong lúc chị B đang cầm điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh và một máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu trắng, Nguyễn Quốc A giật lấy và ném mạnh xuống nền gạch làm hư hỏng toàn bộ hai tài sản trên của chị B. Sau đó, chị B đến Công an trình báo sự việc và yêu cầu xử lý đối với A.
Theo Kết định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Q kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh trị giá 27.600.000 đồng và một máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu trắng trị giá 3.501.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 31.101.000 đồng.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 364/2021/TgT ngày 19/10/2021 của A tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thị Mỹ B là 01% theo phương pháp cộng tại Thông tư; Thương tích do vật tầy gây nên.
Về trách nhiệm dân sự: Chị B yêu cầu Nguyễn Quốc A bồi thường chi phí điều trị thương tích và giá trị tài sản bị thiệt lại là 41.900.000 đồng, Nguyễn Quốc A đã bồi thường.
Đối với hành vi gây thương tích cho chị B với tỷ lệ thương tật 01% chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSMT ngày 18/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc A về tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quốc A thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo về tội “Huỷ hoại tài sản”.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo A, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo A từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và truy tố, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 08/10/2021, tại nhà của bị hại, bị cáo A đã ném 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh đen và một máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu trắng của bị hại, gây hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 31.101.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Xét về ý thức, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân, luôn được pháp luật bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì ghen tuông, bị cáo đã thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản của bị hại. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi của bị cáo gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài ra, xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định và là lao động chính trong gia đình nên miễn việc khấu trừ thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo chưa phù hợp với những nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i và s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 36 của Bộ Luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Quốc A tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Quốc A cho Uỷ ban nhân dân xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp, người chấp hành án vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Quốc A.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc A phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.
Bị cáo Nguyễn Quốc A phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo Bản án sơ thẩm đối với bị cáo và bị hại là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP.Q, Tiền Giang; - Chi cục THADS TP.Q, Tiền Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - Lưu (15b) | Cao Thị Thu Thuỷ |