vanban.org

Bản án 24/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sằm Văn L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-ST
Ngày 27-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÔ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Kim Quỳnh.

2. Ông Ma Ngọc Vũ.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Tâm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Btham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/12/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dânthành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm C khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/HSST, ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Sằm Văn L; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04 tháng 01 năm 1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, thành phố B, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Sằm Văn C và bà Hoàng Thị H; Bị cáo có vợ là Đinh Thị M và có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/5/2015, bị C an huyện C, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, mức phạt 750.000 đồng, nộp phạt ngày 03/6/2015. Ngày 31/7/2017, bị C an huyện T, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 31/7/2017.

Bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Trần Văn C, sinh năm 1989. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã N, thành phố B, tỉnh B. * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Hà Văn K, sinh năm 1989. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã N, thành phố B, tỉnh B.

* Người làm chứng:

- Vương Thái T, sinh năm 1984. (Vắng mặt).

- Ngô Xuân C, sinh năm 1979. (Vắng mặt).

Đều có địa chỉ: Tổ 12, phường P, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/7/2022, anh Trần Văn C đến nhà anh Hà Văn K để chơi. Lúc đó, ở nhà anh K có các anh Vương Thái T và Ngô Xuân C đang cùng ngồi uống bia, nói chuyện tại đó. Trong khi ngồi nói chuyện, anh K dùng điện thoại di động của mình gọi video cho Sằm Văn L nói chuyện, sau đó anh K chuyển điện thoại cho anh T nói chuyện với L. Trong lúc anh T và L đang nói chuyện với nhau qua video thì anh C ngó sang điện thoại mà anh T đang cầm nói chuyện với L, anh C thấy L thì có nói với L một số lời lẽ thô tục xúc phạm L. Nghe anh C nói mình như vậy, L bực tức tắt điện thoại và đi xe mô tô một mình đến nhà anh K. Khi L đến nhà anh K thì gặp anh C, anh T và anh C đang ngồi uống bia, nói chuyện với nhau. L chào hỏi mọi người rồi đi về phía gần anh C đang ngồi, L hỏi anh C đã nói chửi gì mình, đồng thời L cầm 01 (một) chiếc cốc bằng thuỷ tinh ở trên bàn đập một phát trúng vùng miệng của anh C khiến chiếc cốc bị vỡ và gây thương tích, chảy máu ở vùng cằm và môi anh C. Thấy vậy, anh T cùng anh K, anh C can ngăn. Sau đó L đi về nhà, còn anh C đến C an thành phố B trình báo sự việc rồi đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa B từ ngày 16/7/2022 đến ngày 22/7/2022.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 145/TgT ngày 01/8/2022 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh B kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Văn C tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật có cạnh gây nên.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã tạm giữ và bảo quản tại Kho vật chứng Công an Thành phố B gồm: Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau và bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Trần Văn C số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), nay bị hại không yêu cầu gì thêm.

Đối với chiếc cốc thủy tinh Sằm Văn L dùng để gây thương tích cho Trần Văn C, là tài sản của anh Hà Văn K. Tuy nhiên, do chiếc cốc đã cũ, không có giá trị nên anh K không yêu cầu Sằm Văn L phải bồi thường thiệt hại.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 69/CT - VKSTPBK ngày 29/11/2022 truy tố bị cáo Sằm Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Sằm Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Sằm Văn L từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo L phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Sằm Văn L nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo Sằm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 22 giờ 30 phút ngày 15/7/2022, tại thôn K, xã N, thành phố B, tỉnh B, do bực tức vì bị anh Trần Văn C xúc phạm bằng lời lẽ thô tục nên Sằm Văn L đã có hành vi dùng 01 chiếc cốc bằng thủy tinh đập trúng vùng miệng của anh C, làm anh C bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (Mười một phần trăm).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:

""1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:………..

2. Phạm tội thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 31% nhưng thuộc một trong các T hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này..."

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ .Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Nguyên nhân xảy ra sự việc bị cáo gây thương tích cho bị hại cũng có một phần lỗi của bị hại vì đã có lời nói thô tục xúc phạm bị cáo. Bị hại Trần Văn C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có ông ngoại là Hoàng Văn H là người có Công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng C hạng nhì. Vì vậy bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã xâm phạm sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, ổn định, bị cáo lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, gia đình, người thân của bị cáo sẽ gặp nhiều khó khăn nếu bị cáo phải đi chấp hành án ở trại cải tạo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, các con của bị cáo đều còn rất nhỏ; vợ bị cáo chỉ ở nhà chăm sóc con, không có thu nhập, nguồn sống của cả gia đình bị cáo phụ thuộc vào thu nhập từ sức lao động của bị cáo. Hơn nữa, xét hoàn cảnh phạm tội của bị cáo cũng một phần do lỗi của bị hại đã có lời nói thô tục, xúc phạm bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục là đủ, vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành C dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau và bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 50.000.000đ. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho mình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Văn K cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho mình chiếc cốc mà bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng là nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt của chiếc cốc mà L dùng để gây thương tích cho C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Văn K không yêu cầu được lấy lại. Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị, giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố: Bị cáo Sằm Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017: Xử phạt bị cáo Sằm Văn L 26 (hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 52 (năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Nông Thượng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106/BLTTHS 2015, tịch thu, tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Sằm Văn L phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử C khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ quan. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ