vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tình cảm vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Như Th.

Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Như Bảo Việt, sinh ngày 18/11/2013 và Nguyễn Bảo Trang, sinh ngày 26/12/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị Đ không yêu cầu giải quyết. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về tình cảm vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Như Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2022

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế và ông Tô Huy Bân.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2022/TLST - HNGĐ, ngày 26/7/2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990 (có mặt).

Trú tại: Thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Như Th, sinh năm 1990(vắng mặt).

Trú tại: Thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời khai tại Toà án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Như Th vào ngày 15/4/2013 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh.

Sau khi cưới, vợ chồng sống tại thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Th thường xuyên chửi bới, đánh đập chị thậm tệ, bản chất anh Th rất vũ phu, nhiều lần anh Th đánh đập khiến chị phải nhập viện.

Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không chịu được cuộc sống gia đình với nhiều lần anh Th bạo lực đối với chị, chị đề nghị giải quyết ly hôn với anh Th, hiện tại chị không có thai.

- Về con chung: Chị Đ và anh Th có 02 con chung là Nguyễn Như Bảo Việt, sinh ngày 18/11/2013 (nam) và Nguyễn Bảo Trang, sinh ngày 26/12/2018 (nữ). Khi vợ chồng ly hôn, chị xin nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị kinh doanh mỹ phẩm, thu nhập mỗi tháng từ 20 đến 30 triệu đồng, chị có chỗ ở ổn định nên đảm bảo điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao giấy triệu tập hợp lệ anh Th để lấy lời khai, thông báo phiên họp và hòa giải nhưng anh Th vắng mặt không có lý do. Tòa án đã kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà anh Th để tiến hành lấy lời khai, nhưng anh Th không có nhà, do vậy Tòa án không lấy lời khai của anh Th được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không lên Toà án làm việc, không hợp tác.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1,điều 35; điểm a khoản 1, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.

- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Đ và anh Th đã trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Đ và được ly hôn anh Th.

- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Như Bảo Việt, sinh ngày 18/11/2013 và Nguyễn Bảo Trang, sinh ngày 26/12/2018 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chung không yêu không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Nguyễn Như Th. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Như Th trú tại thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điểm a khoản 1điều 35; điểm a khoản 1điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Như Th dăng ký kết hôn ngày 15/4/2013 tại UBND thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, đã được tự do tìm hiểu, tự nguyện. Xét thấy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhan gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn: Quá trình chung sống chị Đ trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th bản tính nóng nảy, thường xuyên đánh đập chị Đ thậm tệ, gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Th không thay đổi, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Th.

Tòa án cùng với địa phương đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các bản tố tụng hợp lệ cho anh Th nhưng anh Th vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Việc anh Th vắng mặt được coi là trường hợp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện và thể hiện thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn gia đình.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Đ, anh Th đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ, xử cho chị Đ được ly hôn với anh Th.

[ 3] Về con chung: Chị Đ và anh Th có 02 con chung là Nguyễn Như Bảo Việt, sinh ngày 18/11/2013 và Nguyễn Bảo Trang, sinh ngày 26/12/2018 hiện nay đang ở cùng chị Đ. Xét thấy chị Đ có nguyện vọng nuôi 02 con chung cũng theo nguyện vọng của cháu Việt muốn được ở với mẹ, hiện hai cháu còn nhỏ và để đảm bảo cho cuộc sống của các cháu không bị xáo trộn, cần giao cháu Việt và cháu Trang cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp pháp luật.

Về cấp dưỡng: Chị Đ yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 97, 146, 147, 204, 220; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, 262, 264, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 8, 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

1. Về tình cảm vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Như Th.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Như Bảo Việt, sinh ngày 18/11/2013 và Nguyễn Bảo Trang, sinh ngày 26/12/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị Đ không yêu cầu giải quyết.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom,chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không có, không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị Đ đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/04421 ngày 26/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ