vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020 đến khi cháu H thành niên. Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Phú - Nguyễn Thị Mỹ Hạnh"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 9 năm 2022
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Thanh Phong.

2. Bà Trần Thị Thanh Huyền.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1994. (Có đơn xin vắng mặt).

HKTT: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Ấp 6, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh P và chị Nguyễn Thị Mỹ H có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ngày 27/02/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở cùng bố mẹ đẻ anh P tại khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khoảng tháng 2/2021 chị H đã bỏ về ở cùng bố mẹ đẻ chị H tại Ấp 6, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn P xác định vợ chồng có 1 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020. Hiện nay cháu H đang ở cùng chị H. Ly hôn, anh P nhất trí giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H.

Về tài sản chung; Về công nợ chung; Về công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn P xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không đóng góp công sức gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Văn P có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ngày 27/02/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở cùng bố mẹ đẻ anh P tại khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại Ấp 6, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước từ tháng 3/2021, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh P xin ly hôn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nhất trí ly hôn.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020. Hiện nay cháu H đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện nay chị đang làm lao động tự do, thu nhập bình quân 6.000.000đ/01 tháng.

Về tài sản chung; Về công nợ chung; Về công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị Mỹ H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không có đóng góp công sức gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020 đến khi cháu H thành niên.

Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên không đề nghị tòa án giải quyết vì vậy không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn P tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H, HKTT tại: Khu 1, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H đều xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P kết hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ngày 27/02/2020. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Anh P và chị H cũng đều thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 3/2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh xin được ly hôn. Chị H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị cũng nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020. Hiện nay cháu H đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H. Anh P cũng nhất trí khi ly hôn thì giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt, sự phát triển của cháu và xét ý kiến của anh P và chị H vì vậy cần giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H là phù hợp.

Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên không đề nghị tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn P tự nguyện chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao là phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 25/10/2020 đến khi cháu H thành niên.

Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị Mỹ H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên không đề nghị tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn P tự nguyện nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Văn P đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0002146 ngày 05/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho anh Nguyễn Văn P số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

[5]. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ