- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Neàng Sóc Kh và anh Chau Si Ph là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 24 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 4 – 2022 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: Ông Nguyễn Văn Thiện.
Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Giang Lê Thanh Hải
2.Bà Phạm Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: ông Chau Kim Sol – Là Thư ký củaTòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 355/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp Xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 28/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: chị Neàng Sóc Kh, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: ấp V, xã VT, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: anh Chau Si Ph, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: ấp V, xã VT, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
Người phiên dịch: ông Chau Xi Nê là phiên dịch viên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 28 tháng 7 năm 2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Neàng Sóc Kh trình bày:
Sau khi được hai gia đình mai mối và tổ chức lễ cưới, chị và anh Chau Si Ph tự nguyện chung sống với nhau tại gia đình cha mẹ ruột tại ấp V xã VT, nhưng không có đăng k y kết hôn. Năm 2014 chị và anh Ph lên Sài Gòn làm công nhân, đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, anh Chau Si Ph có hành vi đánh đập, nên hai người sống ly thân từ đó đến nay. Nay yêu cầu được ly hôn với anh Chau Si Ph.
Chị Kh và anh Ph có 01 con chung tên: Chau Púch Châm R, sinh ngày 02/7/2008, hiện chi Kh đang nuôi dưỡng, chị Kh có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Chau Si Ph được Tòa án gửi các văn bản tố tụng, triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh Ph đều vắng mặt mà cũng không có gửi kiến cho Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Ti ̣nh Biên tỉnh An Giang phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật Tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán còn để án quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:nguyên đơn, bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về đề xuất hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về hôn nhân: không công nhận chi Neàng Sóc Kh và anh Chau Si Ph là vợ chồng;
+ Về con chung: giao con chung tên Chau Púch Châm R cho chị Neàng Sóc Kh chăm sóc, nuôi dạy, anh Ph không phải cấp dưỡng, do bà Kh không yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: kiến nghị Tòa án cần quan tâm, sớm đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng:
Chị Kh có yêu cầu xin ly hôn với anh Ph hiện có địa chỉ cư trú và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã VT, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, theo qui định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Neàng Sóc Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Chau Si Ph được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2].Về nội dung
[2.1].Quan hệ hôn nhân:
Chị Neàng Sóc Kh và anh Chau Si Ph tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007, nhưng không đăng ký kết hôn.
Chị Neàng Sóc Kh cho rằng thờ i gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn , nguyên nhân do anh Ph có hành vi đánh đập, ngược đãi vợ con. Nhâ ̣n thấy tinh cảm vợ chồng không cò n, mục đích hôn
̀
nhân không đạt, nên chi ̣ Kh yêu cầu ly hôn với anh Ph.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì :“ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”,và theo khoản 2 Điều 53 qui định“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Neàng Sóc Kh đối vớ i anh Chau Si Ph không được chấp nhận mà Tòa án tuyên bố không công nhận chị Neàng Sóc Kh và anh Chau Si Ph là vợ chồng.
[2.2].Về con chung: Chị Kh và anh Ph có 01 con chung tên: Chau Púch Châm R, sinh ngày 02/7/2008, hiện chị Kh đang nuôi dưỡng, đồng thời chị Kh có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: từ thời điểm chị Kh và anh Ph không còn chung sống với nhau thì cháu Chau Púch Châm R do chị Kh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự phát triển bình thường của đứa trẻ và cũng theo nguyên vọng của cháu theo Biên bản lấy lời khai ngày 23/3/2021 thì cháu muốn được sống với mẹ; do đó giao cho chị Kh tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc con chung là cháu Chau Púch Châm R, sinh ngày 02/7/2008 là phù hợp.Chị Kh không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra giải quyết.
Việc nuôi dạy con không cố định, vì lợi ích của con, theo yêu cầuvà cũng của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[3].Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Neàng Sóc Kh khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo mức án phí không giá ngạch, nhưng được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi đa nô ̣̃ p.
́
[4]. Đề nghi ̣ của Viê ̣n Kiểm sát phù hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Hô ̣i đồng
xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 14, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227,khoản 1 Điều 228,Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Neàng Sóc Kh và anh Chau Si Ph là vợ chồng.
Về con chung: giao cho chị Kh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Chau Púch Châm R, sinh ngày 02/7/2008. Anh Chau Si Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Neàng Sóc Kh phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu số 0005811, ngày 02 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Tịnh Biên; - THADS huyện Tịnh Biên; - Đương sự; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thiện |