- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/DS-ST Ngày: 23 - 9 - 2022 V/v tranh chấp quyề n sử dụ ng đấ t |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạ m Thế Chiế n.
2. Ông Vũ Kim Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễ n Ngọ c Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2021, về việc “Tranh chấp quyề n sử dụ ng đấ t”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn C, sinh năm 1960; bà Phan Thị L , sinh năm 1956;
Địa chỉ: Số nhà X đườ ng B , tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Mai Duy H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số nhà X đườ ng B , tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan : Chị Hoàng Thị Thúy H 1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số nhà X đườ ng B , tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Ngườ i là m chứ ng:
+ Bà Phan Thị H2, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số L đườ ng H, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
+ Bà Lê Thủy L1 (Tên gọi khác: T), sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà X đường H, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắ ng mặ t.
+ Ông Phạm Huy H3, sinh năm 1955.
Đị a chỉ: Số nhà X đườ ng B , tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khở i kiệ n ghi ngà y 11/5/2021 và quá trình giải quyết vụ án , nguyên đơn ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L trình bày:
Vào năm 2007, vợ chồng ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và bà Phan Thị H2 (chị gái bà Phan Thị L ); địa chỉ: Số L đườ ng H , thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thỏa thuận cùng nhau nhậ n chuyể n nhượ ng chung một thử a đất ở của ông L2, bà T với giá 220.000.000 đồng (mỗi bên trả 110.000.000 đồng), trên đất có 01 căn nhà ở, diện tích đất khoảng gần 2.000m2, đấ t tọ a lạ c tạ i tổ dân phố Y, thị trấ n B, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk.
Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông C, bà L cùng với bà Phan Thị H2 thỏa thuận phân chia mỗi bên một nửa diện tích đấ t, tuy nhiên việc này do hai bên nói với nhau không lập văn bản. Vợ chồng ông C, bà L và bà Phan Thị H2 tiế n hà nh cá c thủ tụ c sang tên theo quy đị nh phá p luậ t . Ngày 31/12/2007, UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 590393, thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, diện tích đấ t 983m2 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồ ng ông C, bà L đã xây dựng hàng rào, khi xây hàng rào đã đo đạc lại chia đúng chính giữa đất của hai gia đình và xây dựng theo mốc ranh giới chính giữa. Trong suố t quá trình quản lý , sử dụ ng hai bên gia đình đều thống nhất chia đất theo hàng rào ranh giớ i đã xây dựng từ năm 2007.
Đối với căn nhà trên đất nằm giữa ranh giới của hai gia đình, do tại thời điểm nhậ n chuyể n nhượ ng đất hai gia đình chưa có điều kiện xây dựng nhà mới nên vợ chồ ng ông C, bà L và bà H2 thỏa thuận thống nhất sử dụng chung ngôi nhà. Tuy nhiên, không phân chia nhà theo ranh giới đất giữa hai bên mà chia theo bức tường đã xây dựng sẵn trong nhà để sử dụng trướ c, vì nếu đập tường đi xây theo ranh giới đất thì nhà bị lệch không thể sử dụ ng để ở được. Bức tường nằm chéo trên ranh giới đất của hai nhà và nằm chủ yếu trên đất của vợ chồng ông C, bà L. Vợ chồng ông C, bà L và bà H2 cũng thỏa thuận bít hết các cửa trên bức tường này để làm vách ngăn giữa hai gia đình. Lúc đó hai bên thỏa thuận bằng lời nói là hai bên gia đình cứ tạm thời chia như vậy để ở. Khi một trong hai bên có nhu cầu xây dựng lại thì cứ đập ra xây dựng lại thẳng theo ranh giới đất. Sau đó bà H2 không đến ở mà cho vợ chồ ng con gái chị H1 và con rể anh H ở trong nửa căn nhà nói trên và gia đình ông C, bà L ở trong nửa phần còn lại. Đến khoảng năm 2017, vợ chồ ng anh Mai Duy H nhậ n chuyể n nhượ ng l ại quyề n sử dụ ng đấ t và tiế p tụ c sinh số ng trên căn nhà này. Từ năm 2017 cho đến nay ông C, bà L đã nhiề u lầ n yêu cầu vợ chồ ng anh H tháo dỡ một phần căn nhà nói trên để trả lại đất cho gia đình ông C, bà L theo đúng đường ranh giới đất đã chia của hai nhà là đường thẳng để vợ chồ ng ông C, bà L xây dự ng nhà mới. Lúc đầu vợ chồ ng anh Mai Duy H đồng ý tháo dỡ phần căn nhà lấn sang đất của vợ chồng ông C, bà L để trả lại diện tích đất của ông bà nhưng thời gian dài vợ chồ ng anh H không thực hiện. Đến khoảng tháng 4 năm 2020 gia đình ông C, bà L tiế p tụ c yêu cầu vợ chồ ng anh H tháo dỡ phần nhà nằm lấn trên diệ n tí ch đất của vợ chồ ng ông C, bà L để ông bà xây nhà mới thì vợ chồ ng anh H không đồng ý.
Để đả m bả o quyề n lợ i hợ p phá p cho mình, nay vợ chồ ng ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khở i kiệ n đề nghị Tòa án buộc vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 tháo dỡ công trình xây dựng trên đấ t và trả lại phần diện tích đất theo đo đạ c thự c tế là 23,95 m2 mà vợ chồ ng anh H, chị H1 đang sử dụng nằm trên quyền sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà L, có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giá p đấ t ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m.
* Theo văn bả n ý ki ế n ghi ngà y 03/6/2021, biên bả n lấ y lờ i khai ngà y 09/6/2021 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Mai Duy H trình bày:
Vào năm 2007, vợ chồ ng ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và ông Hoàng C1, bà Phan Thị H2 đã thỏa thuận cùng nhau nhậ n chuyể n nhượ ng chung quyề n sử dụng đấ t ở của ông L2, bà T với giá 220.000.000 đồng (mỗi bên trả 110.000.000 đồng), trên đất có 01 căn nhà ở, về diện tích đất cụ thể thì anh H không biế t rõ. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và ông Hoàng C1, bà Phan Thị H2 thỏa thuận về việc phân chia ranh giới quyền sử dụng đất và nhà ở đối với thửa đất nói trên theo hình thức đất chia đôi, nhà chia đôi, tuy nhiên việc này do hai bên nói với nhau chứ không lập thành văn bản. Sau đó mỗi bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong căn nhà nói trên có xây dựng sẵn 01 bức tường ngăn đôi ở giữa, hai bên thỏa thuận sử dụng bức tường làm đường ranh giới chia đôi giữa hai nhà, và mỗi bên sinh hoạt ở một nửa căn nhà. Sau đó hai nhà xây dựng hàng rào để ngăn hai bên thì có đo lại điểm đầu và điểm cuối đất, xác định đúng điểm đầu và điểm cuối chia đôi hai thửa đất, còn điểm giữa do vướng căn nhà không đo được nên chỉ xây thẳng lên chứ anh H không biết có chính xác hay không.
Đến năm 2014, ông C1, bà H2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho anh Hoàng Phi H4 và anh Vũ Văn H5, chị Hoàng Thị H6 (Địa chỉ: số X đườ ng H, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).
Năm 2014, vợ chồng anh H, chị H1 nhận chuyển nhượng đất của anh Vũ Văn H5, chị Hoàng Thị H6 và năm 2017 vợ chồ ng anh chị nhậ n chuyể n nhượ ng đấ t củ a anh Hoàng Phi H4 và tiế p tụ c ở căn nhà nói trên.
Trong suốt quá trình từ khi ông C1, bà H2 ở vào năm 2007 cho đến khi chuyển nhượng cho anh H4, anh H5, chị H 6 và nhữ ng ngườ i nà y lạ i chuyển nhượng cho vợ chồng anh H, chị H1, hai bên gia đình vẫn tiếp tục sinh hoạt bình thường trên một nửa của căn nhà đã xây dựng sẵn trên đất theo bức tường ngăn trước đó, không ai có ý kiến, tranh chấp gì.
Nay ông Nguyễn C, bà Phan Thị L yêu cầu vợ chồ ng anh H, chị H1 tháo dỡ công trì nh xây dự ng trên đấ t để trả lại phần diện tích đất này thì vợ chồ ng anh H, chị H1 không đồng ý với yêu cầu của ông C, bà L bởi các lý do sau:
Sau khi nhận chuyển nhượng đất hai bên đã thỏa thuận về việc phân chia ranh giới đất và nhà ở, hai bên đã sử dụng ổn định từ năm 2007 cho đến nay, không ai có ý kiến, tranh chấp gì về ranh giới đất và nhà ở, như vậy đã thể hiện các bên thừa nhận phần quyền và phần diện tích đối với quyền sử dụng đất và nhà ở của mình.
Sau khi vợ chồ ng anh H, chị H1 nhận chuyển nhượng đất anh chị vẫn giữ nguyên hiện trạng đất và nhà, không xây dựng thêm tại phần ranh giới giữa hai nhà nên việc ông C, bà L cho rằng anh H, chị H1 lấn chiếm đất là không đúng.
Thông qua các buổi làm việc tại UBND thị trấn B thể hiện diện tích sử dụng thực tế trên đất của ông C, bà L: Chiều ngang phần đầu đất 11,7m; chiều ngang giữa đất 14m, chiều ngang cuối đất dài 17m sai lệch so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C, bà L: Chiều ngang phần đầu đất 13m; chiều ngang giữa đất 16m, chiều ngang cuối đất dài 19m. Như vậy việc ông C, bà L căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đòi lại đất là không có căn cứ.
Ngày 25/5/2021, ông Phạm Huy H3 có diện tích đất liền kề với đất ông C, bà L đã dịch chuyển hàng rào lưới B40 sang phần đất của ông C, bà L với chiều ngang 1,5m từ điểm tranh chấp cho đến cuối phần đất nhưng ông C, bà L không có ý kiến phản đối. Tuy nhiên hàng rào này đã có từ trước khi vợ chồ ng anh H, chị H1 nhận chuyển nhượng đất của ông H4. Việc dịch chuyển hàng rào nói trên sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả đo đạc sau này khi giải quyết việc tranh chấp đất đai giữa gia đì nh anh H và gia đì nh ông C, bà L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Thúy H 1 trình bày:
Vào năm 2007, ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và bố mẹ chị H 1 là ông Hoàng C1, bà Phan Thị H2 đã thỏa thuận cùng nhau mua chung một diện tích đất ở của ông L2, bà T với giá 220.000.000đ (mỗi bên trả 110.000.000đ), trên đất có 01 căn nhà ở, về diện tích đất cụ thể chị H1 không biế t rõ. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và ông Hoàng C1, bà Phan Thị H2 thỏa thuận về việc phân chia ranh giới quyền sử dụng đất và nhà ở đối với thửa đất nói trên theo hình thức đất chia đôi, nhà chia đôi, tuy nhiên việc này do hai bên nói với nhau chứ không lập thành văn bản. Sau đó mỗi bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về căn nhà nói trên có xây dựng sẵn 01 bức tường ngăn đôi ở giữa, hai bên thỏa thuận sử dụng bức tường làm đường ranh giới chia đôi giữa hai nhà, và mỗi bên sinh hoạt ở một nửa căn nhà. Ông C, bà L chọn phần nhà lớn hơn để ở và xây bít các cửa thông giữa hai bên. Sau đó ông C tự đo và xây dựng hàng rào để ngăn hai nhà.
Sau khi bố mẹ chị H1 chia đất, chia nhà xong với ông C, bà L vào năm 2007 thì để cho vợ chồ ng chị H1, anh H vào ở trên phần nhà mà bố mẹ chị H1 đã thỏa thuận phân chia.
Đến năm 2014 ông C1, bà H2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho anh Hoàng Phi H4 và anh Vũ Văn H5, chị Hoàng Thị H6 (Địa chỉ: số X đườ ng H , thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk). Sau khi anh H 5, chị H 6 nhận chuyển nhượng đất thì vẫn để cho vợ chồng chị tiếp tục ở trên căn nhà nói trên.
Cũng trong n ăm 2014 vợ chồng chị Hoàng Thị Thúy H 1, anh Mai Duy H nhận chuyển nhượng thử a đất này của anh H5, chị H6 và năm 2017 vợ chồng chị nhận chuyển nhượng đất của anh H4.
Trong suốt quá trình từ khi bố mẹ chị H1 cho vợ chồng chị H1 vào ở từ năm 2007 cho đến nay, hai bên gia đình vẫn tiếp tục sinh hoạt bình thường trên một nửa của căn nhà đã xây dựng sẵn trên đất theo bức tường ngăn trước đó, không ai có ý kiến, tranh chấp gì.
Nay ông Nguyễn C, bà Phan Thị L yêu cầu vợ chồ ng chị H1, anh H trả lại phần diện tích đất này thì chị H1 không đồng ý với yêu cầu của ông C, bà L bởi các lý do như chồ ng chị H1 là anh H đã trì nh bà y nêu trên.
* Ngườ i là m chứ ngbà Phan Thị H2 trình bày:
Vào năm 2007, vợ chồ ng ông Nguyễn C, bà Phan Thị L và vợ chồng bà là ông Hoàng C1, bà Phan Thị H2 đã thỏa thuận cùng nhau nhậ n chuyể n nhượ ng một thử a đấ t ở của ông L2, bà T với giá 220.000.000đ (mỗi bên trả 110.000.000đ), trên đất có 01 căn nhà cấp 4 kiên cố, có gác lửng, về diện tích đất cụ thể thì bà H2 không nhớ rõ. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng bà H2 với vợ chồng ông Nguyễn C, bà Phan Thị L thỏa thuận về việc phân chia ranh giới quyền sử dụng đất và nhà ở đối với thửa đất nói trên theo hình thức đất chia đôi, nhà chia đôi, vì khi nhậ n chuyể n nhượ ng đất thì giá đất bao gồm cả giá trị căn nhà trên đất. Tuy nhiên việc này do hai bên nói với nhau chứ không lập thành văn bản. Sau đó mỗi bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong căn nhà nói trên có kết cấu gồm nhà chính và một phòng lồi, phía trên có gác lửng, cầu thang đi lên gác lửng nằm trong phòng lồi. Giữa nhà chính và phòng lồi có xây dựng sẵn 01 bức tường ngăn, có cửa thông giữa hai gian. Vợ chồng bà H2 và vợ chồng ông C, bà L thỏa thuận sử dụng bức tường làm đường ranh giới chia đôi giữa hai nhà, và mỗi bên sinh hoạt ở một nửa căn nhà. Ông C, bà L chọn phần nhà chính lớn hơn để ở và xây bít các cửa thông giữa hai bên, cũng như làm thêm một cầu thang bên phần nhà chính để đi lên gác lửng phía trên. Khi mua hai bên bỏ tiền như nhau nhưng ông C, bà L nhận phần nhà chính lớn hơn, còn vợ chồ ng bà H2 chấp nhận lấy phần phòng lồi, như vậy vợ chồ ng bà H2 bị thiệt hơn so với số tiền đã bỏ ra. Tuy nhiên do là chị em trong nhà nên vợ chồ ng bà H2 cũng không có ý kiến gì mà thống nhất chia như vậy. Sau đó ông C tự đo và xây dựng hàng rào để ngăn hai nhà.
Sau khi vợ chồng bà H2 chia đất, chia nhà xong với ông C, bà L vào năm 2007 thì để cho vợ chồng con gái bà H2 là chị Hoàng Thị Thúy H1 và con rể anh Mai Duy H ở trên phần nhà đã thỏa thuận chia.
Đến năm 2014, vợ chồng bà H2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho các con là anh Hoàng Phi H4 và anh Vũ Văn H5, chị Hoàng Thị H6. Sau khi anh H5, chị H6 nhận chuyển nhượng đất thì vẫn để cho vợ chồng anh H, chị H1 tiếp tục ở trên căn nhà nói trên.
Năm 2014, vợ chồng Mai Duy H, Hoàng Thị Thúy H1 nhận chuyển nhượng đất của anh H5, chị H6. Năm 2017 vợ chồng anh H, chị H1 nhận chuyển nhượng đất của anh H4.
Trong suốt quá trình từ khi con gái và con rể bà H2 vào ở từ năm 2007 cho đến nay, hai bên gia đình vẫn tiếp tục sinh hoạt bình thường trên một nửa của căn nhà đã xây dựng sẵn trên đất theo bức tường ngăn trước đó, không ai có ý kiến, tranh chấp gì.
Nay ông Nguyễn C, bà Phan Thị L yêu cầu anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 trả lại phần diện tích đất nêu trên thì bà H2 không đồng ý với yêu cầu của ông C, bà L bởi các lý do sau:
Sau khi nhận chuyển nhượng đất hai bên đã thỏa thuận về việc phân chia ranh giới đất và nhà ở, hai bên đã sử dụng ổn định từ năm 2007 cho đến nay, không ai có ý kiến, tranh chấp gì về ranh giới đất và nhà ở như vậy đã thể hiện các bên thừa nhận phần quyền và phần diện tích đối với quyền sử dụng đất và nhà ở của mình.
Sau khi con gái Hoàng Thị Thú y H 1 và con rể Mai Duy H vào ở căn nhà trên từ năm 2007 cho đến nay, các con bà H2 vẫn giữ nguyên hiện trạng đất và nhà chứ không hề xây dựng thêm tại phần ranh giới giữa hai nhà nên việc ông C, bà L cho rằng chồ ng anh H, chị H1 lấn chiếm đất là không đúng.
* Ngườ i là m chứ ng bà Lê Thủy L1 khai:
Vào năm 2007, bà Lê Thủy L1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn C, bà Phan Thị L khoảng gần 2.000m2 đất tại thôn Đ, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) với giá 220.000.000đồng. Khi chuyển nhượng các bên có viết giấy tay với nhau, ông C, bà L đã giao đủ tiền, gia đì nh bà đã giao đất và toàn bộ tài sản trên đất cho ông C, bà L và đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà. Sau đó, ông C, bà L tự đi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã ở trên đất đó từ năm 2007 cho tới nay.
Việc ông C, bà L và bà Phan Thị H2 có góp tiền mua đất hay không, thỏa thuận mua đất, chia đất như thế nào thì bà L1 hoàn toàn không biết. Toàn bộ việc mua bán, chuyển nhượng đất từ đầu đến cuối bà L1 chỉ làm việc với ông C, bà L.
* Ngườ i là m chứ ng ông Phạm Huy H3 khai:
Đối với diệ n tí ch đấ t củ a gia đì nh ông H3 đang quả n lý , sử dụ ng hiệ n nay có nguồn gố c gia đì nh ông H3 đượ c cấ p năm 1981 và ngày 10/7/2000 đã đượ c Sở Đị a chí nh tỉ nh Đ cấ p Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số P 006598, thử a số 431, tờ bả n đồ 09, diệ n tí ch 2.093m2. Từ khi quả n lý , sử dụ ng năm 1981 cho đến nay không có tranh chấ p vớ i ai về diệ n tí ch đấ t và ranh giớ i đấ t . Do vậ y, việ c anh Mai Duy H cho rằ ng giữ a gia đì nh ông H3 vớ i gia đì nh ông C, bà L đổ i đấ t sang cho ông H3 ở phầ n cuố i thử a đấ t khoả ng 1,5m ngang thì ông H3 không đồng ý. Để giả i quyế t dứ t điể m vụ á n ông H3 đề nghị Tòa án tiế n hà nh đo đạ c luôn diệ n tí ch đấ t củ a gia đì nh ông H3 cùng với diện tích đất của ông C, bà L và đấ t củ a anh Mai Duy H, trườ ng hợ p đấ t củ a gia đì nh ông H3 dư ra như anh H trình bày thì ông H3 trả lại diện tích đất dư ra này.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các bên đương sự vẫn không thống nhất, thỏa thuận được với nhau, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk:
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thự c hiệ n đầ y đủ cá c quyề n, nghĩa vụ theo quy định pháp luật ; bị đơn và người liên quan chưa thự c hiệ n đầ y đủ quyề n và nghĩ a vụ theo quy đị nh phá p luậ t.
+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Xét nguồn gốc đất các bên đươ ng sự nhậ n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t đã phân chia ra nh giớ i đấ t là đườ ng thẳ ng , đố i vớ i diệ n tí ch đấ t 23,95m2 nằ m trong diệ n tí ch đấ t củ a ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t . Vì vậy, nguyên đơn khở i kiệ n là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộ c vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H 1 trả lại cho ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L diện tích đất 23,95m2, đấ t có tứ cận: Phía Đông giáp đấ t ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m; đấ t tọa lạc tại tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đối vớ i ý kiế n củ a anh H cho rằ ng ngày 25/5/2021 ông Phạ m Huy H 3 có diện tích đấ t liề n kề ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đã dị ch chuyể n hà ng rà o lướ i B40 sang phầ n đấ t củ a ông C, bà L vớ i chiề u ngang 1,5m từ điể m tranh chấ p cho đế n cuố i phầ n đấ t là không có cơ sở . Vì, ranh giớ i đấ t cá c bên đương sự đã sử dụ ng ổ n đị nh, không có tranh chấ p ; đồ ng thờ i đương sự không có đơn yêu cầ u phả n tố , không có đơn yêu cầ u độ c lậ p nên không đặ t ra xem xé t giả i quyế t theo quy đị nh pháp luật.
+ Về chi phí tố tụng và á n phí: Đề nghị giả i quyế t theo quy đị nh phá p luậ t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khởi kiện anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 để đòi lại 23,95m2 đất tọa lạc tại tổ dân phố Y, thị trấn B , huyện K, tỉnh Đắk Lắk là quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.
Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khởi kiện yêu cầ u Tò a á n buộ c vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất 23,95m2 và trả lại cho ông bà diệ n tí ch đấ t nà y , đấ t có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giáp đấ t ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m; đấ t tọa lạc tại tổ dân phố Y, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc đất nguyên đơn ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 tháo dỡ công trình xây dự ng trên diện tích đất 23,95m2 và trả lại cho ông bà diện tích đất này , đấ t có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m nằ m trên diệ n tí ch đấ t 983m2 đã đượ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 590393, thửa đất số 432, tờ bản đồ số 9, do UBND huyện K cấ p ngà y 31/12/2007 mang tên hộ ông Nguyễn C, bà Phan Thị L mà ông C, bà L cho rằ ng vào năm 2007 vợ chồ ng ông bà vớ i bà Phan Thị H2 thỏa thuận cùng nhận chuyển nhượng 01 lô đấ t ở củ a ông L2, bà L1 (tên gọ i khá c là T) vớ i diệ n tí ch đấ t khoả ng gầ n 2.000m2, trên đấ t có 01 ngôi nhà xây cấp 4, giá chuyển nhượng 220.000.000 đồ ng (mỗ i bên trả 110.000.000 đồ ng), sau đó đấ t chia đôi đã đó ng cọ c xây hà ng rà o ranh giớ i sử dụ ng ổ n đị nh từ năm 2007 cho đế n nay không có tranh chấ p gì . Đối vớ i căn nhà cấ p 4 nằ m trên ranh giớ i đấ t củ a hai gia đì nh , do tạ i thờ i điể m nhậ n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t hai gia đì nh chưa có điề u kiệ n xây dự ng nhà mới nên vợ chồ ng ông C, bà L và bà H 2 có thỏa thuận tạm thời sử dụng chung ngôi nhà ; tuy nhiên không phân chia theo ranh giớ i đấ t mà chia theo bứ c tườ ng đã xây sẵ n trong nhà , vì nếu đập tường đi xây theo ranh giới đất thì diện tích sử dụng của hai gia đì nh bị lệch không thể sử dụng ở được; bứ c tườ ng nằ m ché o trên ranh giớ i đấ t củ a hai gia đì nh và nằ m chủ yế u trên diệ n tí ch đấ t củ a vợ chồ ng ông C, bà L; sau đó hai bên bí t hế t cá c cử a trên bứ c tườ ng để là m vá ch ngăn gi ữa hai gia đình sử dụng riêng; khi nà o mộ t trong hai bên có nhu cầ u xây nhà mớ i thì cứ tháo dỡ ra xây dự ng lạ i thẳ ng theo ranh giớ i đấ t đã chia. Sau khi thỏ a thuậ n xong sử dụ ng nhà tạm thời chung thì bà H2 cho vợ chồ ng con gá i chị H1 và con rể anh H đến ở nử a căn nhà có mộ t phầ n diệ n tí ch nằ m trên diệ n tí ch đấ t củ a vợ chồ ng ông C, bà L từ năm 2007 cho đế n nay; phầ n cò n lạ i gia đì nh ông C, bà L sử dụ ng để ở ; đến năm 2017 vợ chồ ng anh H, chị H1 nhậ n chuyể n nhượ ng diệ n tí ch đấ t nà y ; do nhu cầ u sử dụ ng nhà ở vợ chồ ng ông C, bà L đề nghị anh H, chị H1 thảo dỡ công trì nh trên đấ t trả lạ i diệ n tí ch đấ t theo đú ng đườ ng ranh giớ i đã phân chia trướ c đây để gia đì nh ông C, bài L xây nhà mớ i, tuy lúc đầ u anh H, chị H1 đồ ng ý nhưng sau này không thực hiện như đã cam kết.
Xét thấy các bên đương sự đều thừa nhận vào năm 2007 gia đì nh ông Nguyễ n C , bà Phan Thị L và gia đì nh bà Phan Thị H 2 có nhận chuyển nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ở khoảng gần 2.000m2 và trên đất có căn nhà xây cấp 4 của vợ chồ ng ông L2, bà T vớ i giá chuyể n nhượng 220.000.000 đồ ng, mỗ i gia đì nh góp 110.000.000 đồ ng trả cho ông L2, bà T; sau khi nhậ n chuyể n nhượ ng xong giữ a hai gia đì nh thỏ a thuậ n đấ t chia đôi theo giá trị tiề n mỗ i bên đó ng góp, các bên đã nhậ n đấ t, phân chia đấ t là m hà ng rà o từ năm 2007, tiế n hà nh làm các thủ tục sang tên theo quy định pháp luật và ranh giớ i đấ t giữ a hai bên gia đì nh là đường thẳ ng xá c đị nh trong giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t đã cấ p.
Xét ý kiến của bị đơn anh H; ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan chị H 1 và người làm chứng bà Phan Thị H 2 cho rằ ng sau khi nhậ n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t củ a ông L2, bà T vào năm 2007 thì giữa gia đình ông C, bà L vớ i gia đì nh bà H2 thỏa thuận đất, nhà cấp 4 chia đôi và gia đình anh H, chị H1 đã sử dụ ng ổ n đị nh từ năm 2007 cho đế n nay không ai có ý kiế n gì ; đồ ng thờ i anh H, chị H1 sau khi nhậ n chuyể n nhượ ng đấ t năm 2017 cho đế n nay vẫ n giữ nguyên hiệ n trạ ng đấ t và nhà cho nên vợ chồ ng anh H, chị H1, ngườ i là m chứ ng bà H2 không đồ ng ý vớ i yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông C, bà L là không có cơ sở mộ t phầ n . Bở i vì , đố i vớ i căn nhà xây cấ p 4 nằ m trên ranh giớ i đấ t chia đôi đều đã được các bên thừa nhận và các bên đương sự đã được cấp Giấy chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t có sơ đồ thửa đất xác định ranh giớ i đấ t là đường thẳ ng; đồ ng thờ i anh H, chị H1, bà H2 không có tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh cho rằ ng căn nhà chia đôi có mộ t phầ n diệ n tí ch nằ m trên đấ t củ a ông C, bà L và ông C, bà L không thừ a nhậ n ý kiế n nhà chia đôi củ a anh H, chị H1, bà H2. Do đó , nguyên đơn ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khở i kiệ n là có cơ sở .
Xét ý kiến của anh H cho rằ ng ngày 25/5/2021 ông Phạ m Huy H 3 có diện tích đất liề n kề ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đã dị ch chuyể n hà ng rà o lướ i B40 sang phầ n đấ t củ a ông C, bà L vớ i chiề u ngang 1,5m từ điể m tranh chấ p cho đế n cuố i phầ n đấ t nhưng ông C, bà L không có ý kiế n là không có cơ sở . Bở i lẽ , sau khi nhậ n chuyể n nhượ ng đấ t của ông L2, bà T vào năm 2007 giữ a gia đì nh ông C, bà L vớ i gia đì nh bà H2 đã phân chia đấ t, làm hàng rào ranh giới đấ t từ năm 2007, đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t ; sau bà H2 chuyể n nhượ ng lạ i cho anh Hoàng Phi H 4 và anh Vũ Văn H 5, chị Hoàng Thị H6; sau anh Hả i, anh H5, chị H6 tiế p tụ c chuyể n nhượ ng lạ i cho anh H, chị H1 cũng giữ nguyên hiện trạng ranh mố c giớ i đấ t ổ n đị nh, không có tranh chấ p vớ i ai về ranh mốc giớ i đấ t đã phân chia từ đầ u thử a đấ t xuố ng cuố i thử a đấ t củ a hai gia đì nh. Do đó , trườ ng hợ p có tranh chấ p ranh giớ i đấ t giữ a ông C, bà L vớ i ông H3 cũng không liên quan đến anh H, chị H1. Đồng thời, qua đo đạ c thự c tế đất của ông H3 không dư ra so vớ i giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t củ a ông H3 đã đượ c cấ p năm 2000.
Từ nhữ ng phân tích nhậ n đị nh trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L khởi kiện yêu cầ u Tòa án buộc vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 trả lại cho vợ chồng nguyên đơn diện tích đất đo đạc thự c tế là 23,95 m2 mà anh H, chị H1 đang sử dụng nằm trên quyền sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà L , có tứ cận : Phía Đông giáp đất ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m (tính từ mép ranh giới đất kéo vào hết mép tường xây ngăn cá ch tranh chấ p ); Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m (tính từ mép ranh giới đất kéo vào hết mép tường xây ngăn cách tranh chấp ) là có căn cứ cầ n chấ p nhậ n.
. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Về chi phí đo đạ c , thẩ m đị nh, đị nh giá : Do yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đượ c chấ p nhậ n nên anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 phải chịu tổ ng số tiề n chi phí tố tụ ng là 9.996.000 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.846.000 đồng, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.150.000 đồ ng). Số tiề n nà y ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đã nộ p theo Phiế u thu ngà y 23/8/2021 nên anh H, chị H1 phải trả lại cho ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L số tiề n 9.996.000 đồng.
- Về án phí: Do yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đượ c chấ p nhậ n nên anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩ m có giá ngạch là 300.000 đồ ng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 158, Điều 163, Điều 166, Điề u 175, Điề u 176, Điề u 189, Điề u 579 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[2]. Tuyên xử:
Chấ p nhậ n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễ n C , bà Phan Thị L. Buộc vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H 1 trả lại cho vợ chồ ng ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L diệ n tí ch đấ t đo đạ c thự c tế là 23,95m2, có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Nguyễ n C dài 12,46 m; Phía Tây giáp đất ông Mai Duy H dài 12,87 m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 0,52 m (tính từ mép ranh giới đất kéo vào hết mép tường xây ngăn cách tranh chấ p); Phía Bắc giáp đất ông Nguyễ n C rộ ng 3,41 m (tính từ mép ranh giới kéo vào hế t mé p tườ ng xât ngăn cá ch tranh chấ p). Buộ c vợ chồ ng anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 tháo dỡ vật kiế n trú c xây dự ng trên diệ n tí ch đấ t nêu trên (có sơ đồ theo Trí ch đo đị a chí nh thử a đấ t ngà y 28/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc - Tư vấ n Nông Lâm Nghiệ p Đắ k Lắ k kèm theo) và chịu mọi chi phí tháo dỡ.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Về chi phí đo đạ c , thẩ m đị nh, đị nh giá : Anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H1 phải chịu tổng số tiền chi phí tố tụng là 9.996.000 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.846.000 đồng, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.150.000 đồ ng). Số tiề n nà y ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L đã nộ p theo Phiế u thu ngà y 23/8/2021 nên anh H, chị H1 phải trả lại cho ông Nguyễ n C, bà Phan Thị L số tiề n 9.996.000 đồng (chín triệu chín trăm chín mưới sáu nghìn đồ ng).
- Về án phí: Anh Mai Duy H, chị Hoàng Thị Thúy H 1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩ m có giá ngạ ch là 300.000 đồ ng (ba trăm nghì n đồ ng)
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Ana; - Chi cục THADS huyện Krông Ana; - Các đương sự; - Văn phòng; - Cổ ng thông tin điệ n tử củ a Tò a á n; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Thành |