vanban.org

Bản án 24/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.140.000.000 đồng (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng) Kể từ khi Nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng bà M và ông N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/DS- ST
Ngày: 27/6/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quách Hà Vính

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa không tham gia phiên toà.

Ngày 27/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2022/TLST- DS, ngày 21 tháng 4 năm 2022 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1968

Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn:

- Bà Nguyễn Thị M; sinh năm: 1969

- Ông Bùi Văn N; sinh năm: 1970

Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Thạch T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt các đương sự

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 01/2022, bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N có vay của bà tổng cộng là 05 lần với số tiền là 1.140.000.000đ (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng). Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất và thỏa thuận khi nào cần thì trả ngay. Tuy nhiên khi cần tiền bà đòi nhiều lần nhưng bà M và ông N khất lần không chịu trả. Đến nay, bà đề nghị cả bà M và ông N phải trả cho bà số tiền gốc là 1.140.000.000đ (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng) tiền gốc, không yêu cầu tiền lãi.

Tại bản tự khai ngày 18/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà thừa nhận có vay của bà T nhiều lần tiền với tổng số tiền là 1.100.000.000đ. Sau đó, chốt nợ lại là 1.140.000.000đ, trong đó có 40.000.000đ tiền lãi cộng dồn vào tiền gốc. Mục đích vay tiền của bà là để buôn bán, và đầu tư vào trồng trọt nhưng bị thua lỗ. Sau đó, bà đi vay mượn để lấy chỗ nọ để trả cho chỗ khác. Đến nay vẫn chưa trả được tiền gốc cho bà T, tiền lãi bà mới trả đến tháng 12/2021, sau đó do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà không tiếp tục trả tiền lãi được nữa. Đến nay, Bà T yêu cầu bà phải trả số tiền là 1.140.000.000đ, do điều kiện kinh tế gia đình đang rất khó khăn nên bà đề xuất với bà T giảm cho bà xuống 700.000.000đ tiền gốc. Về thời gian trả nợ, bà cũng chưa xác định được khi nào mới có điều kiện trả nợ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 18/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Bùi Văn N trình bày:

Ông chỉ biết là vợ mình có vay tiền của một số hộ hàng xóm trong đó có bà T, nhưng cụ thể vay bao nhiêu tiền thì ông không biết. Mục đích ban đầu của bà M là đầu tư làm kinh tế gia đình sau đó bị thua lỗ. Việc bà M đứng ra vay tiền của bà T ông không được trực tiếp sử dụng số tiền trên nên ông không đồng ý cùng bà M trả nợ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Bà T và bà M, ông N đang tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” do bà M và ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông N và bà M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Phố, xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.

. Việc bà Nguyễn Thị M vay tiền của bà Nguyễn Thị T, tổng số tiền là 1.140.000.000đ (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng) được thể hiện trong giấy vay tiền mà bà T giao nộp cho Tòa án. Trong giấy vay tiền ghi rõ số tiền vay, ngày vay tiền và có chữ ký (ghi rõ họ tên) của người vay là bà M. Việc này, bản thân bà M cũng thừa nhận. Như vậy hợp đồng vay tài sản giữa các bên đã được xác lập bằng văn bản, là hợp đồng hợp pháp.

. Trong các giấy vay tiền hai bên không thống nhất về thời hạn trả nợ. Tuy nhiên khi cần Tiền bà T đã đòi nợ nhiều lần có người chứng kiến sự việc này. Đến nay bà T khởi kiện yêu cầu bà M và ông N phải trả số tiền gốc là 1.140.000.000đ. Bà M cho rằng đã trả được tiền lãi đến tháng 01/2022, nhưng bà M không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Ông N không ký vào giấy vay tiền, không đồng ý cùng bà M trả nợ, nhưng ông N biết bà M vay tiền của bà T để làm kinh tế gia đình. Do đó yêu cầu của bà T là phù hợp với thỏa thuận mà hai bên đã giao kết và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà T. Buộc bà M và ông N phải có trách nhiệm trả cho bà T tổng số tiền gốc 1.140.000.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của bà T được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bà M và ông N phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 463; Khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

1. Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.140.000.000 đồng (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng)

Kể từ khi Nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng bà M và ông N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N phải chịu 46.200.000đ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) tiền án phí DSST. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 23.100.000đ (Hai mươi ba triệu một trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí DSST mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0007612 ngày 19/4/2022.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ