vanban.org

Bản án 24/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với bà LTTT. Buộc bà LTTT có nghĩa vụ trả cho Ngân hàngdo Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tổng cộng là 28.999.042đ (hai mươi tám triệu, chín trăm chín mươi chín ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng khởi kiện"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/DS-ST
Ngày 29/4/2022
V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Triết Minh

2. Ông Huỳnh Văn Tý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 153/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng

Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông NVB, sinh năm 1992 – Phó phòng giao dịch Phú Hòa – Chi nhánh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2021 của Giám đốc Ngân hàng– Chi nhánh An Giang). (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Bà LTTT, sinh năm 1971.

Địa chỉ: ấp P, thị trấn PH, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàngủy quyền cho ông NVB trình bày như sau:

Ngân hàng– chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Phú Hòa An Giang (Ngân hàng) với bà LTTT có thỏa thuận ký 02 hợp đồng tín dụng như sau:

1. Hợp đồng thứ 1: Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1822200359 ngày 10/8/2018 để vay số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), thời hạn vay 24 tháng, mỗi tháng trả số tiền vốn gốc là 833.000đ, tháng cuối cùng trả vốn gốc 841.000đ. Sau khi vay, bà T đã thanh toán được số tiền 10.735.019đ, trong đó: lãi là 3.038.019đ và vốn là 7.697.000đ. Tuy nhiên, từ tháng 7/2019 đến nay, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính tới ngày 25/6/2021 bà T còn nợ số tiền tổng cộng là 21.805.131đ (trong đó số tiền vốn gốc là 12.303.000đ và số tiền lãi là 9.502.131đ);

2. Hợp đồng thứ 2: Hợp đồng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019 vay số tiền 10.000.000đ, lãi suất 24%/năm, thời hạn vay 181 ngày. Từ khi nhận nợ, bà T trả được 127 ngày với số tiền 7.861.300 đồng. Đến tháng 7/2019 thì ngưng trả nợ đến nay. Bà T còn nợ số tiền tổng cộng là 3.328.800đ (trong đó số tiền lãi là 602.700đ và số tiền vốn là 2.726.100đ).

Nay Ngân hàngyêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà LTTT phải trả cho Ngân hàngdo Ngân hàng– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tạm tính đến ngày 25/6/2021 của 02 hợp đồng với số tiền nợ là 25.133.931đ và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ, đồng thời buộc bà T phải chịu toán bộ án phí và các chi phí có liên quan.

Tại phiên hòa giải, Ngân hàng yêu cầu bà T trả số tiền 3.328.800đ, theo hợp đồng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh; và yêu cầu bà T trả số tiền vốn là 12.303.000đ, lãi tạm tính tới ngày 25/6/2021 là 9.502.131đ và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1822200359 ngày 10/8/2018.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông NVB có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn bà LTTT không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gởi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã từ bỏ quyền của mình.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 Bộ Luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà LTTT trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền của 02 hợp đồng tổng cộng là 28.999.042đ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1822200359 ngày 10/8/2018.

Đình chỉ phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh do nguyên đơn rút yêu cầu.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện bà LTTT có nơi cư trú tại ấp Tây Bình B, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thủ tục tố tụng: Ngân hàng (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Ngân hàng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà T (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền tổng cộng tính đến ngày 29/4/2022 theo 02 hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1822200359 ngày 10/8/2018 và hợp đồng số 01161-00294 ngày 11/01/2019. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà T đến để làm rõ vụ án, về việc có hay không việc bà ký hợp đồng kiêm giấy nhận nợ với Ngân hàng vay số tiền vay tổng cộng là 30.000.000đ với lãi suất vay, mục đích vay, thời gian vay, số tiền đã trả, số tiền còn nợ như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, bà T vẫn không có mặt cũng như không có văn bản nào gởi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của mình. Do đó, HĐXX căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Theo tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện, Ngân hàng và bà T có ký hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019 với tổng số tiền vay là 10.000.000đ, hình thức trả vốn lãi chia đều và hợp đồng số LD1822200359 ngày 10/8/2018 để vay số tiền là 20.000.000đ, với hình thức trả hàng tháng. HĐXX xét thấy, 02 hợp đồng tín dụng trên ký kết giữa Ngân hàng với bà T được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ theo hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện bà T yêu cầu trả số tiền vốn gốc và lãi còn nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280, 466 và Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015.

Phần lãi suất: Tại phiên hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh này.

Nguyên đơn có yêu cầu bà T phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LD1822200359 ngày 10/8/2018 đã ký kết. HĐXX xét thấy, theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi bà T thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp với Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc bà T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 25.670.242đ (hai mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mười nghìn, hai trăm bốn mươi hai đồng) của hợp đồng tín dụng số LD1822200359 ngày 10/8/2018. Trong đó: số tiền vốn gốc là 12.303.000đ (mười hai triệu, ba trăm lẻ ba nghìn đồng), số tiền lãi tạm tính đến ngày 29/4/2022 là 13.367.242đ (mười ba triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, hai trăm bốn mươi hai đồng) và số tiền 3.328.800đ (ba triệu, ba trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm đồng) của hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019, số tiền tổng cộng là 28.999.042đ; Đồng thời bà T còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LD1822200359 ngày 10/8/2018 trên số tiền nợ vốn gốc 12.303.000đ chưa thanh toán.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 244, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với bà LTTT.

Buộc bà LTTT có nghĩa vụ trả cho Ngân hàngdo Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tổng cộng là 28.999.042đ (hai mươi tám triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, không trăm bốn mươi hai đồng).

Kể từ ngày 30/4/2022, bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LD1822200359 ngày 10/8/2018 cho đến khi bà T thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàngthì lãi suất mà bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàngđối với phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00294 ngày 11/01/2019.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà LTTT phải nộp 1.450.000đ (một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Ngân hàngdo Ngân hàng– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 628.000đ (sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008708 ngày 18/11/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

* Về quyền kháng cáo: Ông Bền và bà T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ