- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/DS-ST Ngày: 26 – 4 – 2022 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Ông Nguyễn Văn Trưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1988.
Địa chỉ: khóm M Th, ph 3, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Phúc Ng, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: ấp S Tr, xã V L, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
Chỗ ở hiện nay: ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Út Đ, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt).
Anh Hồ Thanh L, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T B 1, xã L Ph, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Phạm Văn V, có người đại diện theo ủy quyền anh Dương Phúc Ng trình bày:
Vào năm 2017, 2018 anh Phạm Văn V có bán thức ăn gia súc cho vợ chồng anh Hồ Thanh L, chị Nguyễn Thị Út Đ nhiều lần, việc mua bán thức ăn không có lập hợp đồng nhưng có sổ theo dõi mua bán hàng. Đến ngày 10/3/2018 anh V và anh L, chị Út Đ chốt sổ lại thì vợ chồng anh L còn nợ của anh V số tiền 60.693.000 đồng. Sau khi chốt nợ lại xong hai bên thỏa thuận lãi suất 03%/ tháng, vợ chồng anh L hứa trong thời gian 02 tháng sẽ trả Đ cho anh V. Tuy nhiên, khi đến hạn vợ chồng anh L không thực hiện trả nợ cho anh V cho đến nay.
Tại phiên tòa, anh Dương Phúc Ng là người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Văn V yêu cầu thay đổi mức lãi suất từ 1,66%/tháng xuống 0,83%/tháng. Anh Ng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Hồ Thanh L, chị Nguyễn Thị Út Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho anh V số tiền còn nợ 60.693.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 10/5/2018 cho đến ngày xét xử trong thời gian sớm nhất.
Bị đơn Hồ Thanh L thừa nhận vào năm 2017, 2018 anh có mua thức ăn gia súc của anh Phạm Văn V nhiều lần. Tính đến ngày 10/3/2018 anh còn nợ của anh V số tiền 60.693.000 đồng. Khi chốt nợ xong thì không có đề cặp đến phần lãi suất. Nay anh đồng ý trả số tiền 60.693.000 đồng cho anh V, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng. Còn tiền lãi suất thì anh không đồng ý trả.
Tại bản tự khai của bị đơn Nguyễn Thị Út Đ trình bày: Chị là vợ của anh Hồ Thanh L, số tiền còn nợ của anh V do anh L quyết định, chị không có ý kiến. Nay gia đình gặp khó khăn nên chị yêu cầu được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục: Bị đơn Nguyễn Thị Út Đ có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Thị Út Đ.
Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” căn cứ vào Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Dương Phúc Nguyên là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phạm Văn V và bị đơn Hồ Thanh L cùng thống nhất số tiền vốn mà bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ còn nợ của nguyên đơn Phạm Văn V là 60.693.000 đồng. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Tại phiên tòa, ông Dương Phúc Ng là người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Văn V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ có nghĩa vụ liên đới trả số tiền còn nợ 84.683.000 đồng (Trong đó tiền vốn 60.693.000 đồng và lãi suất 23.945.000 đồng).
Bị đơn Hồ Thanh L đồng ý trả số tiền vốn 60.693.000 đồng cho ông V nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng và trả cho đến khi hết nợ. Còn tiền lãi suất thì anh không đồng ý trả.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng mua tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện. Hàng hóa hai bên thực hiện mua bán là thức ăn gia súc, đây là tài sản được nhà nước cho phép mua bán. Tuy hai bên thực hiện mua bán không có lập hợp đồng mua bán theo quy định nhưng việc mua bán giữa hai bên được thể hiện bằng sổ theo dõi mua bán hàng. Từ khi anh L, chị Đ mua thức ăn của anh V cho đến ngày 10/3/2018 hai bên chốt sổ lại thì vợ chồng anh L còn nợ của anh V số tiền 60.693.000 đồng. Theo quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015 “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.”. Do đó, anh L, chị Đ mua thức ăn gia súc của anh V cho đến nay chưa trả tiền cho anh V nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và L ích của anh V. Vì vậy, anh V khởi kiện yêu cầu anh L, chị Đ trả số tiền còn nợ 60.693.000 đồng cho anh V là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Tại phiên tòa, anh Dương Phúc Nguyên là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Phạm Văn V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ có nghĩa vụ trả lãi suất trên số tiền gốc chưa trả cho nguyên đơn Phạm Văn V từ ngày 10/5/2018 cho đến ngày xét xử sở thẩm, mức lãi suất 0,83%/tháng. Bị đơn Hồ Thanh L không thừa nhận có thỏa thuận lãi suất với anh V nên không đồng ý trả lãi suất theo yêu cầu của anh V.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015 “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.”. Do đó, bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ hứa đến ngày 10/5/2018 sẽ bán heo trả nợ cho nguyên đơn Phạm Văn V nhưng đến nay vẫn chưa trả số tiền vốn nào cho anh V nên phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả cho anh V kể từ ngày 10/5/2018. Đối với mức lãi suất do các bên không thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 10%/ năm, tức 0,83%/tháng. Do đó, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phạm Văn V thay đổi mức lãi suất từ 1,66%/tháng xuống 0,83%/tháng là phù hợp với quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền và L ích của bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tính từ ngày 10/5/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/4/2022) là 47 tháng 16 ngày.
Như vậy, số tiền 60.693.000 đồng x 0,83%/tháng x 47 tháng 16 ngày = 23.945.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Văn V. Buộc bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Phạm Văn V số tiền còn nợ là 84.638.000 đồng, trong đó tiền vốn 60.693.000 đồng và lãi suất 23.945.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ phải chịu 5% án phí trên số tiền phải trả là 4.231.000 đồng.
Bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ có đơn xin miễn giảm án phí lý do hiện nay gia đình bị đơn đang gặp khó khăn không có khả năng thanh toán tiền án phí và có xác nhận của Chính quyền địa phương nên được Hội đồng xét xử chấp nhận giảm 50% án phí cho bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 430, Điều 431, Điều 440, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Văn V.
2. Buộc bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Phạm Văn V số tiền 84.638.000 đồng (Tám mươi bốn triệu, sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền vốn 60.693.000 đồng và lãi suất 23.945.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Hồ Thanh L, Nguyễn Thị Út Đ phải chịu 2.115.000 đồng (Hai triệu một trăm mười lăm nghìn đồng).
Nguyên đơn Phạm Văn V, có người đại diện theo ủy quyền ông Dương Phúc Nguyên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.590.000 đồng (Hai triệu, năm trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004105, lập ngày 13/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn Nguyễn Thị Út Đ có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKS ND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Lil |