vanban.org

Bản án 24/2022/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 26/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận ột phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Văn N.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩ số 07/2022/DS-ST ngày 28 tháng 3 nă 2022 của Toà án nhân dân thành phố on Tu . Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận ột phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Dân sự; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/DS-PT
Ngày: 26/9/2022
V/v “Tranh chấp y u cầu bồ
thường th ệt hạ do công trình xây
dựng gây ra”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Th nh ph n H i ng t phúc th m g m c :

Th m ph n – Ch t a ph n t a: Ông Nguyễn Tiến Tăng.

C c Th m ph n: 1./ Ông Ngô Văn Minh

2./ Ông Vũ Văn Thuấn

- Th

phi n t a: Bà ê Thị Yến – Thư k TAND t nh on Tu .

- Ki m sát vi n Vi n i m sát nh n d n t nh Kon Tum: Bà Phan Thị Tứ - iể sát viên tha gia phiên tòa.

Trong ngày 26 tháng 9 nă 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh on Tu xét xử phúc thẩ công khai vụ án dân sự thụ l số: 11/2022/TLPT-DS ngày 05 tháng 5 nă 2022 về “Tranh chấp y u cầu bồ thường th ệt hạ do công trình xây dựng gây ra”.

Do bản án dân sự sơ thẩ số 07/2022/DS-ST ngày 28 tháng 3 nă 2022 của Toà án nhân dân thành phố on Tu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số: 18/2022/QĐ-PT ngày 05 tháng 7 nă 2022 của Tòa án nhân dân t nh on Tu giữa các đương sự:

- Nguy n đơn: Bà Trần Thị H, sinh nă 1956.

Địa ch : Số 729 đường P, thành phố , t nh on Tu (có ặt).

- Bị đơn: Ông Trương Văn N, sinh nă 1949 và bà Nguyễn Thị , sinh nă 1950.

Địa ch : Số 731 đường P, thành phố , t nh on Tu .

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị L: Anh Ngô Thanh Q, sinh nă 1979

Địa ch : Hẻ 12 đường P, phường Y, thành phố P, t nh Gia ai (Văn bản ủy quyền đề ngày 22/11/2021) (vắng ặt).

- Ngườ có quyền lợ nghĩa vụ l n quan:

1/ Ông Phạ Minh Hùng T (đã chết).

Ngườ kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng c a ông T ến gồm:

- Bà Trần Thị H, sinh nă 1956

- Anh Phạ Tiến D, sinh năm 1983

- Chị Phạ Thị Ngọc D, sinh nă 1989.

Cùng địa ch : Số 729 đường P, thành phố , t nh on Tu .

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạ Thị Ngọc D: Anh Phạ Tiến D, sinh nă 1983.

Địa ch : Số 729 đường P, thành phố K, t nh on Tu . (có ặt).

2/ Ông Nguyễn Mạnh Ch

Địa ch : Số 105 đường H, thành phố , t nh on Tu (vắng ặt).

- Ngườ làm chứng: Anh Võ Đình T, sinh nă 1984

Địa ch : 116/15 đường N, phường T, thành phố , t nh on Tum (Có đơn xin xét xử vắng ặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo ơn hởi i n, các t i li u, chứng cứ c trong h sơ vụ án, lời trình b y tại phi n t a thì nguy n ơn b Tr n Thị H (Bà H vừa l nguy n ơn, vừa l ng ời ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Minh Hùng T (đã chết) trình bày:

Bà và ông Phạ Minh Hùng T đăng k kết hôn vào ngày 15/11/1980 tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường Q, thị xã , t nh Gia ai - Kon Tum (nay là t nh on Tu ). Tháng 7/2020 ông T chết do tai biến. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà đã xây dựng ngôi nhà cấp 3, diện tích 162 2 trên thửa đất tại số 729 đường P, thành phố , t nh on Tu , đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AI 512054, do UBND thị xã cấp ngày 16/7/2007, ang tên ông Phạ Minh Hùng T và bà Trần Thị H. Đến nă 2008, vợ chồng bà xây dựng lại nhà ới ba tầng, diện tích xây dựng tầng ột 118.0m2; tổng diện tích sàn 243.6 2; với cấu trúc bê tông cốt thép, ái tôn, theo Giấy phép xây dựng số: 37/GPXD do UBND thị xã cấp ngày 31/3/2008.

Ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị có đất liền kề nhà bà. Ngày 29/02/2020 nhà ông Trương Văn N bắt đầu thuê người đến dọn nhà, khi san lấp ặt bằng lấy búa tạ đập ạnh va chạ vào tường nhà bà, là nứt tường nhà ở tầng 1. Con bà gọi ông N vào ch cho ông N xe vết nứt 03 lần nhưng ông N đã phớt lờ nhưng bà nghĩ hàng xó láng giềng nên bà nói con bỏ qua. Để vui vẻ giữa hai bên gia đình, gia đình bà đã chủ động ời ông N đưa biên bản thỏa thuận nhà liền kề nhằ thỏa thuận giữa hai bên sau này ai sai phải chịu trách nhiệ , nhưng ông N không nhận và nói đất nhà ông N, ông N làm không phải thỏa thuận với ai.

Ngày 13/03/2020 nhà ông N ở óng xây nhà, bà H qua nhà ông N xe thợ đào óng có ảnh hưởng gì đến nhà bà không nhưng nhà ông N không hợp tác à xô, đuổi bà về và dùng lời lẽ xúc phạ , iệt thị đến gia đình bà. Nhà ông N cho áy xúc đào hố óng hàng loạt từ trước ra sau và vượt so với Giấy phép xây dựng. Sau đó, chiều tối trời ưa đã gây ra lún, nứt nhà bà từ tầng 1 đến tầng 3, là ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình bà vì nhà có người đau ố bị thương tật và các cháu nhỏ.

Thấy rằng, giữa hai bên gia đình không thể nói chuyện với nhau nên bà đã là đơn đến tổ hòa giải tổ 7, phường Q. Tại buổi hòa giải, sau khi hai gia đình bàn bạc qua lại thì gia đình ông N không đồng và bỏ về. Vì vậy, đến ngày 17/03/2020 gia đình bà lại kiến nghị đến phường nhờ giải quyết. Tại buổi hòa giải lần 2 ngày 31/3/2020, gia đình ông Trương Văn N đồng đền bù cho gia đình bà số tiền là 20.000.000 đồng nhưng bà không đồng . Bà nhờ UBND phường Q thuê giúp ột đơn vị tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác định nguyên nhân gây ra hư hỏng và khắc phục sửa chữa nhà bà để khách quan giữa hai bên. Đến ngày 07/5/2020 UBND phường Q tiếp tục tổ chức tiếp dân để giải quyết giữa hai bên gia đình nhưng ông N không đồng

à đề nghị tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình ông N vẫn tiếp tục thi công bình thường đã đổ bê tông các tầng và các trụ là ảnh hưởng đến công trình nhà bà, xuất hiện nhiều vết nứt trên tường, sàn, trụ, cầu thang, gần như xuất hiện toàn bộ công trình, các vết nứt ngày càng nhiều và rõ hơn, các cửa gỗ bị kẹt không thể đóng được. Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông N, bà L phải bồi thường số tiền 95.000.000 đồng chi phí khắc phục, sửa chữa nhà. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trưng cầu giá định, cơ quan giá định kết luận thiệt hại là 81.454.614 đồng nên bà thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông N, bà L bồi thường thiệt hại là 81.454.614 đồng. Tại cấp phúc thẩ Tòa án nhân dân (TAND) t nh on Tu đã hủy bản án sơ thẩ và có yêu cầu bổ sung ông Nguyễn Mạnh Ch tha gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà đồng và bà thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Mạnh Ch liên đới cùng ông Trương Văn N, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường chi phí khắc phục, sửa chữa nhà cho gia đình bà với số tiền là 81.454.614 đồng.

Ng ời c quyền lợi nghĩa vụ li n quan ông Phạm Minh Hùng T (đã chết). Ng ời ế thừa quyền v nghĩa vụ tố tụng của ông T g m b Tr n Thị H, anh Phạm Tiến D, chị Phạm Thị Ngọc D (Ng ời ại di n theo ủy quyền của chị D l anh Phạm Tiến D), anh D trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo bản tự hai ng y 15/6/2020 v các t i li u c trong h sơ vụ án, ông Tr ơng Văn N v b Nguyễn Thị L; ng ời ại di n theo ủy quyền của ông N, bà L là ông Ngô Thanh Q trình bày:

Ông N, bà L không đồng toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu ông N và bà L phải bồi thường chi phí khắc phục, sửa chữa nhà là 81.454.614 đồng vì các bên đã nhiều lần hòa giải tại các cấp trước khi khởi kiện ra Tòa án. Gia đình ông N, bà L đã thiện chí bồi thường ở các ức tiền khác nhau nhưng bà H không đồng .

Ông bà yêu cầu Tòa án xác định: Bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra là yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo quy định của pháp luật, thì việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ch đặt ra nếu:

Một là, có thiệt hại xảy ra đối với công trình nhà bà H (nhà số 729 P);

Hai là, phải có hành vi trái pháp luật của gia đình ông N, bà L thực hiện dẫn đến gây thiệt hại cho gia đình bà H;

Ba là, có ối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật (c a g a đình ông N, bà L) và thiệt hại xảy ra (th ệt hạ công trình nhà bà H). Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

Bà H không chứng inh được thiệt hại thực tế của công trình nhà bà H; không chứng inh được gia đình ông N, bà L có hành vi trái với pháp luật (trong việc thực hiện xây dựng công trình) đối với gia đình nhà bà H hay không; cũng không chứng inh được ối quan hệ nhân quả giữa hành vi của gia đình ông N, bà L và thiệt hại của gia đình nhà bà H. Do không chứng minh được những vấn đề trên, ông N, bà L đề nghị Tòa án xe xét sự việc ột cách đầy đủ, khách quan, toàn diện và công bằng để có quyết định phù hợp nhất.

Về quan điể , gia đình ông N, bà L ch chấp nhận bồi thường cho gia đình bà H 25.000.000 đồng để chi phí cho việc sửa chữa, sơn lại ột số vết nứt chân chi trên vách tường nhà bà H (vách tường tiếp giáp với nhà ông).

Đối với việc Tòa án bổ sung chủ thầu xây dựng là ông Nguyễn Mạnh Ch tha gia tố tụng, ông N có kiến như sau: Thống nhất với việc bổ sung ông Ch tha gia tố tụng. Ông N thuê ông Ch xây dựng ch thỏa thuận bằng iệng. Ông Ch xây dựng theo đúng thiết kế bản vẽ và Giấy phép xây dựng nhà à ông N đã được cấp.

Tại bi n bản lấy lời hai ng y 07/12/2021, trong quá trình giải quyết, ng ời c quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ông Nguyễn Mạnh Ch trình bày:

Vào khoảng nă 2019 (không nhớ rõ ngày/tháng), ông N, bà L thuê ông xây dựng ới 01 ngôi nhà cho ông N, bà L tại địa ch 731 P, thành phố , t nh Kon Tum. Hai bên hợp đồng iệng xây theo thiết kế, ngoài ra không có thỏa thuận nào khác. Ông đã xây dựng trong khoảng 06-08 tháng thì xong và đã bàn giao nhà cho ông N, bà L. Ông đã nhận đủ tiền (không nhớ rõ bao nhiêu tiền vì thời gian đã lâu). Hai bên cũng không tranh chấp gì liên quan đến việc xây nhà và bàn giao nhà. Ông khẳng định đã xây nhà đúng thiết kế, đả bảo kỹ thuật và yêu cầu của ông N, bà L; không xảy ra lỗi kỹ thuật dẫn đến hư hỏng nhà. Trong suốt quá trình từ khi bàn giao nhà đến nay, ông N, bà L không phản ánh hay yêu cầu gì về việc xây dựng nhà bị lỗi.

Đối với việc bà H kiện ông N, bà L ra Tòa án, ông cho rằng, ông không liên quan đến việc tranh chấp và thiệt hại xảy ra không do bên xây dựng. Do đó, ông không có trách nhiệ bồi thường cho hai bên.

Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Kon Tum xử:

Căn cứ các Điều 5, 68 và 74; khoản 6 Điều 26, điể a khoản 1 Điều 35, điể a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 157, 158; khoản 2 Điều 161; khoản 1 Điều 162; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điể đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án;

Áp dụng Điều 13, Điều 174, khoản 3 Điều 584, khoản 1 Điều 585, 587 và Điều 605 của Bộ luật Dân sự, các Điều 87, 88 uật Nhà ở; Điều 119 uật Xây dựng nă 2014; Thông tư 05/2015/TT-BXD, ngày 30 tháng 10 nă 2015 của Bộ xây dựng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H và yêu cầu của người kế thừa quyền nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, anh Phạ Tiến D và chị Phạ Thị Ngọc D.

- Buộc ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 54.303.076 đồng (Nă ươi bốn triệu, ba tră linh ba nghìn, không tră bảy ươi sáu đồng).

- Buộc ông Nguyễn Mạnh Ch phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 27.151.538 đồng (Hai ươi bảy triệu, ột tră nă ươi ốt nghìn, nă tră ba ươi tá đồng).

Về án phí:

- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩ cho ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị .

- Ông Nguyễn Mạnh Ch phải chịu 1.357.576 đồng (Một triệu, ba tră nă ươi bảy nghìn, nă tră bảy ươi sáu đồng).

- Hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền 2.375.000 đồng (Hai triệu ba tră bảy ươi lă nghìn đồng) tạ ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 000349, ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố on Tu , t nh on Tum.

Về chi phí tố tụng:

- Buộc ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị phải cho bà Trần Thị H tiền chi phí xe xét, thẩ định và giá định tài sản là 24.000.000 đồng (Hai ươi bốn triệu đồng).

- Buộc ông Nguyễn Mạnh Ch phải trả cho bà Trần Thị H số tiền chi phí xe xét, thẩ định và giá định tài sản là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Về nghĩa vụ thi hành án: Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự; ể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bên có nghĩa vụ phải thi hành án chậ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậ trả tương ứng với thời gian chậ trả; ãi suất do chậ trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩ còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/4/2022, bị đơn ông Trương Văn N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩ , đề nghị Tòa án cấp phúc thẩ ch chấp nhận 01 phần đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị H không rút đơn khởi kiện.

* Đạ d ện V ện k ểm s t nhân dân tỉnh Kon Tum ph t b ểu quan đ ểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩ phán, Hội đồng xét xử, Thư k và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điể về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự nă 2015 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩ : Chấp nhận ột phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Văn N, sửa Bản án số 07/2022/DS-ST ngày 28/3/2022 của TAND thành phố on Tu .

Căn cứ các Điều 5, 68 và 74; khoản 6 Điều 26, điể a khoản 1 Điều 35, điể a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 157, 158; khoản 2 Điều 161; khoản 1 Điều 162; Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án;

Áp dụng Điều 13, khoản 1 Điều 156, Điều 174, khoản 3 Điều 584, khoản 1 Điều 585, 587 và Điều 605 của Bộ luật Dân sự; các Điều 87, 88 uật Nhà ở; Điều 119 uật Xây dựng nă 2014; Thông tư 05/2015/TT-BXD, ngày 30 tháng 10 nă 2015 của Bộ xây dựng.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.

Buộc ông Trương Văn N, bà Nguyễn Thị và ông Nguyễn Mạnh Ch phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 81.454.614 đồng. Trong đó: Buộc ông Trương Văn N, bà Nguyễn Thị phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 54.303.076 đồng (Năm mươ bốn tr ệu, ba trăm l nh ba nghìn, không trăm bảy mươ s u đồng); Buộc ông Nguyễn Mạnh Ch phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 27.151.538 đồng (Ha mươ bảy tr ệu, một trăm năm mươ mốt nghìn, năm trăm ba mươ tám đồng).

- Về án phí, chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩ tra tại phiên tòa phúc thẩ ; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xe xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kiến của những người tha gia tố tụng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

háng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục à Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xe xét lại bản án sơ thẩ theo trình tự phúc thẩ .

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng ặt. Xét thấy, tại phiên tòa lần thứ nhất người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn xin xét xử vắng ặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng ặt trong các phiên tòa không có l do. Đây là phiên tòa lần thứ ba, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng ặt những người tha gia tố tụng trên.

Xe xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:

Bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị L bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra. Cả hai bên đều thống nhất để Tòa án thuê tổ chức thực hiện giá định. Trước khi k kết hợp đồng với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng kiể định S (Công ty S) để thực hiện việc giá định xây dựng, Tòa án đã thông báo và các đương sự đều không có kiến gì. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đồng thời tại biên bản là việc ngày 30/6/2022 cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với kết quả giá định của Công ty S kết luận số tiền thiệt hại của nhà bà H là 81.454.614 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa 15/9/2022, bà H đề nghị Tòa án phúc thẩ tạ ngừng phiên tòa và thực hiện trưng cầu giá định lại. Đồng thời, cung cấp thê hợp đồng sửa chữa hư hỏng đối với căn nhà trên theo kết quả kiể định với anh Võ Đình T, giá trị hợp đồng là 110.500.000 đồng nhưng chưa thực hiện và yêu cầu giải quyết như kết quả giá định lại. Ngày 15 tháng 9 nă 2022, TAND t nh on Tu trưng cầu Trung tâ Giá định chất lượng xây dựng – Sở Xây dựng on Tu thực hiện giá định lại đối với công trình xây dựng là nhà ở của gia đình bà H.

Tại kết luận giá định số 01/ GĐ-TrT ngày 21/9/2022 của Trung tâ giá định chất lượng xây dựng thuộc Sở xây dựng t nh on Tu đánh giá hồ sơ iể định của do Công ty S lập đả bảo yêu cầu về thủ tục và chất lượng kiể định. ết luận xác định thiệt hại tại nhà của bà H như sau: Công trình xuất hiện 57 vị trí bị hư hỏng, trong đó có 01 vị trí hư hỏng vượt quá giới hạn cho phép; có 02 vị trí kẹt cửa gây bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày; có 33 vị trí hư hỏng nằ trong giới hạn cho phép theo TCVN 9381-2012 do tác động bởi công trình lân cận gây ra. Hầu hết các cột đang bị nghiêng về phía nhà 731 đường P; Trong đó có 01 vị trí cột ở tầng trệt có độ nghiêng vượt quá giới hạn cho phép, các vị trí cột còn lại đều có độ nghiêng nằ trong giới hạn cho phép theo TCVN 9381-2012.Tất cả các vị trí dầ sàn đều có độ võng nằ trong giới hạn cho phép. Giá trị sửa chữa là 81.454.614 đồng. Vì vậy, có cơ sở xác định có thiệt hại xảy đối với công trình nhà ở của bà H. Cũng tại kết quả giá định xác định được nguyên nhân gây ra thiệt hại: “Biện pháp thi công đào óng của đơn vị thi công tại số 731 đường P không có biện pháp chống sạt lở cho công trình lân cận. hi thi công óng gặp trời ưa, đất nền dưới óng bị no nước là cho óng nhà công trình tại số 729 đường P bị lún. Đây là nguyên nhân làm cho công trình tại số 729 đường P bị hư hỏng”.

Vì vậy, việc không đả bảo kỹ thuật trong quá trình xây dựng nhà ông N, bà L là nguyên nhân gây hư hỏng, thiệt hại cho nhà bà H, ông T.

Ông N kháng cáo cho rằng phải bóc tách để xác định thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng xảy ra, không lường trường được, tuy nhiên, sự kiện ông N đưa ra không phải là sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015 vì trời ưa là hiện tượng bình thường của thiên nhiên, có thể lường trước được và có thể khắc phục được, trong xây dựng chủ nhà, chủ thầu phải lường trước được sự việc này và phải có biện pháp bảo đả trong thi công xây dựng. hi thiệt hại do công trình xây dựng gây ra à trong quá trình thi công, chủ nhà, chủ thầu không đả bảo các biện pháp kỹ thuật thì phải liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự 2015.

Để thực hiện xây dựng nhà ở, ông N và bà L thuê ông Nguyễn Mạnh Ch chủ thầu xây dựng, hai bên ch thỏa thuận bằng iệng không lập hợp đồng xây dựng. Căn cứ Điều 119 uật xây dựng 2014, khoản 2 Điều 3 Thông tư 05/2015/TT-BXD ngày 30 tháng 10 nă 2015 của Bộ xây dựng quy định về quản l chất lượng xây dựng và bảo trì nhà ở riêng lẻ quy định: Chủ nhà, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác quản l chất lượng xây dựng và bảo trì nhà ở chịu trách nhiệ về các nội dung công việc do ình thực hiện theo quy định của pháp luật và theo nội dung hợp đồng đã k kết (nếu có) vì vậy ông N, bà L và ông Ch đều có trách nhiệ trong hoạt động xây dựng. Tại Điều 8 Thông tư 05/2015/TT-BXD quy định: Trước kh th công xây dựng, ch nhà ch động l n hệ vớ c c ch sở hữu hoặc ngườ quản lý, sử dụng công trình l ền kề, lân cận để k ểm tra h ện trạng và gh nhận c c khuyết tật c a công trình l ền kề, lân cận (nếu có). Ch sở hữu hoặc ngườ quản lý, sử dụng công trình l ền kề, lân cận có tr ch nh ệm phố hợp vớ ch nhà để k ểm tra, gh nhận h ện trạng công trình làm căn cứ g ả quyết c c tranh chấp (nếu có). Trong qu trình th công xây dựng, nếu công trình l ền kề, lân cận có dấu h ệu bị lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ sập đổ do ảnh hưởng c a v ệc xây dựng nhà ở gây ra, ch nhà phả phố hợp vớ ch sở hữu hoặc ngườ quản lý, sử dụng công trình l ền kề, lân cận để k ểm tra, x c định nguy n nhân và thống nhất b ện ph p khắc phục.

Trước khi xây dựng, gia đình ông N đáng lẽ phải kiể tra hiện trạng nhà bà H để có biện pháp đả bảo trong quá trình xây dựng nhưng gia đình ông N đã không thực hiện, thực tế nhà ông N đã ở óng tầng 1 vượt diện tích so với giấy phép xây dựng và UBND phường đã yêu cầu nhà ông N tháo dỡ (biên bản kiể tra ngày 18/3/2020 – bút lục 29); khi bà H phản ánh việc tường bị nứt và thông báo về việc gia đình nhà ông N xây nhà có khả năng dẫn đến hư hỏng nhà bà H, gia đình ông N cần phải tạ dừng hoạt động thi công để tiến hành xác inh, xe xét ức độ thiệt hại cũng như thoả thuận về phương hướng bồi thường kịp thời nhưng gia đình ông N không phối hợp và cũng không thông báo với chủ thầu xây dựng à để thiệt hại ngày càng nặng hơn vì vậy gia đình ông N có lỗi chính trong việc gây ra thiệt hại nhà bà H. Ông Ch trong quá trình thi công biết rằng phải có biện pháp bảo đả đối với công trình liền kề, khi trời ưa không có biện pháp khắc phục dẫn đến thiệt hại xảy ra đối với nhà bà H. Vì vậy, ông Ch cũng có ột phần lỗi khi không có biện pháp chống sạt lở dẫn đến hư hỏng thiệt hại cho nhà bà H theo quy định tại Điều 587 Bộ luật dân sự.

Từ những phân tích trên, cấp sơ thẩ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, xác định lỗi của chủ nhà và chủ thầu xây dựng để buộc ông N, bà L liên đới cùng ông Ch phải bồi thường thiệt hại cho bà H số tiền là 81.454.614 đồng. Tính theo phần lỗi thì ông N và bà L phải chịu trách nhiệ bồi thường thiệt hại là 54.303.076 đồng (2/3 giá trị thiệt hại), ông Ch phải bồi thường 27.151.538 đồng (1/3 thiệt hại) là có căn cứ. Tuy nhiên, bản án sơ thẩ nhận định ông N, bà L và ông Ch phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà H nhưng tại phần quyết định không tuyên nghĩa vụ liên đới là không đúng quy định tại Điều 587 Bộ luật dân sự. Trong vụ án, bà Trần Thị H là nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạ Minh Hùng T là anh Phạ Tiến D và chị Phạ Thị Ngọc D không có yêu cầu độc lập, nội dung yêu cầu bị đơn bồi thường ch là kiến, Tòa án cấp sơ thẩ nhận định và quyết định tuyên chấp nhận yêu cầu của anh D, chị D và anh D, chị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩ là không chính xác, vì vậy cần phải sửa bản án sơ thẩ về những nội dung này. Ngoài ra, ông N, bà L là người cao tuổi và đã có đơn xin iễn án phí đã được Tòa án sơ thẩ iễn án phí sơ thẩ nhưng lại yêu cầu ông N nộp tạ ứng án phí phúc thẩ là không đúng quy định tại Điều 12 và Điều 14 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tòa án cấp sơ thẩ cần rút kinh nghiệ trong công tác xét xử.

Vì vậy, có căn cứ chấp nhận ột phần kháng cáo của bị đơn Trương Văn N.

Về chi phí giá định: Chi phí giá định lại là 7.653.000 đồng, bà Trần Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giá định này và đã nộp đủ, HĐXX không xem xét.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị được iễn toàn bộ tiền án phí dân sự; ông Nguyễn Mạnh Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận ột phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Văn N.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩ số 07/2022/DS-ST ngày 28 tháng 3 nă 2022 của Toà án nhân dân thành phố on Tu .

Căn cứ các Điều 5, 68, 74, khoản 6 Điều 26, điể a khoản 1 Điều 35, điể a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 161, khoản 1 Điều 162 của Bộ luật tố tụng dân sự; điể đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án;

Áp dụng Điều 13, Điều 174, Điều 584, khoản 1 Điều 585, 587 và Điều 605 của Bộ luật Dân sự, các Điều 87, 88 uật Nhà ở; Điều 119 uật Xây dựng nă 2014; Thông tư 05/2015/TT-BXD, ngày 30 tháng 10 nă 2015 của Bộ xây dựng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.

Buộc ông Trương Văn N, bà Nguyễn Thị và ông Nguyễn Mạnh Ch phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 81.454.614 đồng (T m mươ mốt tr ệu, bốn trăm năm mươ bốn nghìn, s u trăm mườ bốn đồng), trong đó: Ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 54.303.076 đồng (Năm mươ bốn tr ệu, ba trăm linh ba nghìn, không trăm bảy mươ s u đồng); Ông Nguyễn Mạnh Ch phải bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị H số tiền 27.151.538 đồng (Ha mươ bảy tr ệu, một trăm năm mươ mốt nghìn, năm trăm ba mươ t m đồng).

Về án phí:

- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩ và phúc thẩ cho ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị .

Hoàn trả cho ông Trương Văn N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạ ứng án phí phúc thẩ đã nộp theo Biên lai số 0000768, ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố on Tu .

- Ông Nguyễn Mạnh Ch phải chịu án phí dân sự là 1.357.576 đồng (Một tr ệu, ba trăm năm mươ bảy nghìn, năm trăm bảy mươ s u đồng).

- Hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền 2.375.000 đồng (Ha tr ệu ba trăm bảy mươ lăm nghìn đồng) tạ ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0003490, ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố on Tu , t nh on Tum.

Về chi phí tố tụng:

- Buộc ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị phải trả cho bà Trần Thị H tiền chi phí xe xét, thẩ định và giá định tài sản là 24.000.000 đồng (Hai mươ bốn tr ệu đồng).

- Buộc ông Nguyễn Mạnh Ch phải trả cho bà Trần Thị H số tiền chi phí xe xét, thẩ định và giá định tài sản là 12.000.000 đồng (Mườ ha tr ệu đồng).

Về nghĩa vụ thi hành án: Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự; ể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bên có nghĩa vụ phải thi hành án chậ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậ trả tương ứng với thời gian chậ trả; lãi suất do chậ trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/9/2022).

Cỡ chữ