vanban.org

Bản án 24/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T và Đinh Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 256 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HSST
Ngày 30 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Kim Chung

2. Bà Lường Thị Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2021/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HS ngày 16/6/2021 đối với các bị cáo:

1. Đinh Văn T, sinh ngày 20/10/1983 tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tich: Việt Nam; con ông Đinh Văn N và bà Lò Thị N; có vợ là Lò Thị X và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/01/2021, tạm giam từ ngày 22/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

2. Đinh Văn H, sinh ngày 06/02/1995 tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tich: Việt Nam; con ông Đinh Văn N và bà Lò Thị N; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/01/2021, tạm giam từ ngày 22/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

- Người làm chứng:

+ Hoàng Văn H, sinh năm 1992; trú tại: Bản Đ, xã H, thị xã N, tØnh Yªn B¸i. "Vắng mặt".

+ Lý Văn B, sinh năm 1984; trú tại: Bản K, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. "Vắng mặt".

+ Lò Văn Tr, sinh năm 1993; trú tại: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. "Vắng mặt".

+ Lò Văn H, sinh năm 1969; trú tại: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ, ngày 19/01/2021 tại nơi ở của Đinh Văn T thuộc thôn N, xã T, thị xã N. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ bắt quả tang Đinh Văn T, Đinh Văn H, Lò Văn T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ngoài ra tại lúc bắt quả tang còn có mặt một số đối tượng khác gồm Lò Văn H, Hoàng Văn H và Lý Văn B. Kiểm tra thu giữ bên trong tất chân trái T đang đeo 01 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu bên trong có 01 viên nén màu hồng; thu giữ trong túi quần bên phải tiến đang mặc số tiền 2.200.000 đồng, thu giữ trước mặt T nơi đang ngồi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, 03 chiếc bật lửa, 01 cuộn giấy bạc, 02 mảnh giấy bạc ở giữa có vệt màu đen, 01 chai nhựa trong suốt phần thân và phần nắp có gắn 01 đoạn ống nhựa; thu giữ của bị cáo Hồng 02 viên nén màu hồng; thu giữ của Lò Văn T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng. T, H và Tr khai nhận số viên nén màu hồng và gói chất bột màu trắng là ma túy loại hồng phiến và Heroine. Không phát hiện, thu giữ của Lò Văn H, Hoàng Văn H và Lý Văn B đồ vật, tài sản gì.

Hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, cơ quan điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Đinh Văn T, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa T khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy, sáng ngày 17/01/2021 T đến khu vực xã T, huyện T gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine và 04 viên hồng phiến với giá 500.000 đồng, sau đó mang về nhà chia Heroine ra thành nhiều gói nhỏ với mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho các đối tượng khác, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 18/01/2021 bán cho H và B 01 gói Heroine với giá 400.000, trong đó mỗi người góp vào 200.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy H và B hỏi T cho sử dụng nhờ tại nhà của T, T nhất trí và nói với cả hai là chỉ được hít chứ không được chích, sau đó H và B lấy giấy bạc có sẵn tại nhà T hít một phần ma túy tại nhà T, số còn lại mang về và cùng nhau sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 18/01/2021 bán cho Lò Văn Tr 01 gói Heroine với giá 80.000 đồng, Tr mang về và sử dụng hết.

- Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ ngày 18/01/2021 bán cho H 01 gói Heroine với giá 70.000 đồng, H hỏi T cho sử dụng tại nhà T, T đồng ý, Hồng đã lấy giấy bạc có sẵn tại nhà T sử dụng bằng hình thức hít hết số Heroine vừa mua.

- Lần thứ tư: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/01/2021 bán cho bị cáo H 02 viên hồng phiến với giá 40.000 đồng, H cất vào trong túi áo, lúc này Lò Văn Tr đến hỏi mua ma túy nhưng không có tiền nên T đã cho Tr 01 gói Heroine không lấy tiền rồi Tiến nấu 01 viên hồng phiến để cùng với H và Tr sử dụng. Khoảng 10 phút sau có Lò Văn H, Hoàng Văn H và B đến hỏi mua ma túy, T đã bán cho B 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng và đồng ý cho B sử dụng ma túy tại nhà mình, khi B vừa sử dụng xong thì bị bắt quả tang.

Lời khai của Đinh Văn H, Lò Văn Tr, Lò Văn H, Hoàng Văn H và Lý Văn B phù hợp với lời khai của Đinh Văn T.

Tại kết luận giám định số:85/GĐMT ngày 22/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

- 01 viên nén hình dẹt màu hồng thu giữ của bị cáo Tcó khối lượng là 0,1 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Tr có khối lượng là 0,014 gam, là ma túy, loại Heroine.

- 02 viên nén hình dẹt màu hồng thu giữ của Đinh Văn H có khối lượng là 0,2 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số: 86/KLGĐ ngày 22/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Số tiền 2.200.000 đồng gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.

Cáo trạng số 25/CT-VKS-NL ngày 21/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại các điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Đinh Văn T tự thú; quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

* Kiểm sát viên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh:

+ Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

+ Bị cáo Đinh Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt:

+ Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng các điểm b, d khoản 2 Điều 256; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung cho cả 2 tội từ 15 năm đến 17 năm tù.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Methamphetamine; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, giấy gói, 03 chiếc bật lửa, 01 cuộn giấy bạc, 02 mảnh giấy bạc, 01 chai nhựa phần thân và nắp gắn 1 ống nhựa.

- Tịch thu của Đinh Văn T số tiền 600.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

- Trả lại cho Đinh Văn H số tiền 1.600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

- Truy thu của bị cáo số tiền 40.000 đồng do phạm tội mà có.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

* Các bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo T và bị cáo H đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố các bị cáo đều hợp pháp.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng Lò Văn Tr, Lò Văn H, Hoàng Văn H và Lý Văn B và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, Đinh Văn T là người nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời nên vào ngày 17/01/2021 Tiến đã mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực xã T, huyện T đem về nhà cất dấu, chia nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác. Trong 02 ngày 18 và 19/01/2021, bị cáo đã 05 lần bán ma túy cho cho các đối tượng gồm Đinh Văn H, Lò Văn Tr, Hoàng Văn H và Lý Văn B, thu được số tiền là 640.000 đồng. Tổng khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn T là 0,1 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Trong số những lần bán ma túy, có một lần bị cáo đã bán ma túy cho 2 người là Hoàng Văn H là Lý Văn B.

Ngoài bán ma túy, Đinh Văn T còn 3 lần cho Hoàng Văn H là Lý Văn B và Đinh Văn H sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình, trong đó có 1 lần cùng một lúc cho 2 người là B và B sử dụng.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự và biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thu lời bất chính.

Từ những căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở khảng định hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo H, ngày 19/01/2021 đã mua của Đinh Văn T 02 viên hồng phiến khối lượng là 0,2 gam là ma túy, loại Methamphetamine, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, bị cáo Đinh Văn H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Từ đó đã có đủ căn cứ khảng định hành vi của bị cáo Đinh Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này các bị cáo Đinh Văn T và Đinh Văn D là 2 anh em ruột khi tội phạm xảy ra tuy có liên quan đến nhau, nhưng hành vi của các bị cáo độc lập nên xác định không có đồng phạm.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Đinh Văn T tự thú theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân:

Các bị cáo tuy là những người không có tiền án, tiền sự nhưng đều nghiện chất ma túy, thể hiện là những người có nhân thân xấu.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý các bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

- Bị cáo Đinh Văn T mua bán trái phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Đinh Văn H là người nghiện, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Đối với số Heroine thu giữ của Lò Văn Tr là 0,014 gam. Đã lấy ra làm mẫu vật gửi giám định hết, nên không đề cập xử lý.

- Đối với 01 viên hồng phiến, loại Methamphetamine thu giữ của Đinh Văn T có khối lượng là 0,1 gam. Đã lấy ra làm mẫu vật gửi giám định hết, nên không đề cập xử lý.

- Đối với 02 viên hồng phiến, loại Methamphetamine thu giữ của Đinh Văn H có khối lượng là 0,2 gam. Đã lấy ra 0,1 gam làm mẫu vật gửi giám định, còn lại 0,1 gam cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, giấy gói, 03 chiếc bật lửa, 01 cuộn giấy bạc, 02 mảnh giấy bạc, 01 chai nhựa phần thân và nắp gắn 1 ống nhựa, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel là của bị cáo T, nhưng không sử dụng trao đổi mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo theo quy định khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với số tiền 2.200.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn T. Xét trong số tiền này có 600.000 đồng là tiền do T bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, còn lại 1.600.000 đồng không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Ngày 19/01/2021 bị cáo T đã bán ma túy cho Đinh Văn H được 40.000 đồng, số tiền này T đã tiêu sài hết nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.

Trong vụ án này có Lò Văn Tr, Hoàng Văn H và Lý Văn B là người nghiện chất ma túy đã nhiều lần mua ma túy của Tiến để sử dụng cho bản thân.

Đối với Lò Văn Tr được T cho 01 gói Heroine, lượng ma túy thu giữ không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã Nghĩa Lộ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tr là phù hợp.

Đối với Hoàng Văn H, Lý Văn B đều là người nghiện đã mua ma túy của bị cáo T để sử dụng, nhưng không cấu thành tội phạm, Công an thị xã Nghĩa Lộ đã chuyển tài liệu đến Công an xã nơi họ cư trú để đề nghị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.

Đối với Lò Văn H ngày 19/01/2021 đến nhà Tiến với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa mua được, qua xét nghiệm H dương tính với ma túy nên Công an thị xã Nghĩa Lộ đã chuyển tài liệu đến Công an xã nơi H cư trú để đề nghị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy Đinh Văn T mua của đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực xã T, huyện T, nhưng T không biết tên địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T, bị cáo Đinh Văn H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; Bị cáo Đinh Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt:

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T 07 (bảy) năm tù. Phạt tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) về tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

- Áp dụng các điểm b, d khoản 2 Điều 256; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T 07 (bảy) năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy";

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung cho cả 2 tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2021.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2021.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Methamphetamine; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; túi nilon và giấy gói; 03 chiếc bật lửa, 01 cuộn giấy bạc, 02 mảnh giấy bạc, 01 chai nhựa phần thân và phần nắp có gắn đoạn ống nhựa.

- Tịch thu của bị cáo Đinh Văn T số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Đinh Văn T số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

- Truy thu của bị cáo Đinh Văn T số tiền 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, và biên bản giao nhận tài sản ngày 25/5/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ).

[4] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Văn H mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm

[5] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Yên Bái;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND thị xã Nghĩa Lộ;

- VKSND tỉnh Yên Bái;

- THA hình sự;

- CCTHA dân sự thị xã Nghĩa Lộ;

- CA thị xã Nghĩa Lộ;

- Bị cáo; Trại tạm giam;

- Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;

- UBND xã Thạch Lương (thông báo);

Hoàng Thị Phú

- Chi cục Hải quan;

- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ