vanban.org

Bản án 24/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đạt phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T1 đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đạt 01 (Một) năm tù được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Phạm Văn Đạt cho Ủy ban nhân dân xã Định Tân, huyện Yên Định, tỉnh Th Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Văn Đạt cố ý vi p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T "Hủy hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đạt phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T1 đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đạt 01 (Một) năm tù được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HSST
Ngày 31/03/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Minh Tân.

2. Bà Nguyễn Thị Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T sinh ngày 03 tháng 10 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T1 và bà Huỳnh Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tiền sự: Ngày 19/5/2020 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2020 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phạm Hoàng L, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

2. Ông Nguyễn T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 Pt ngày 24/11/2020, anh Phạm Hoàng L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-55930 đến nhà anh Lê Văn Th chơi, anh L dựng xe trước cổng ngõ nhà anh Th. Khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76U1-19148 mang theo 01 con dao (sử dụng để chặt cây) về nhà. Tại đây, bị cáo xin tiền cha là ông Nguyễn T1 để đi đám cưới, ông T1 không cho, bị cáo cãi nhau với cha rồi lên xe bỏ đi. Khi đi đến ngã ba gần nhà anh Th, bị cáo bị ngã xe, ông T1 đi ra xem, thấy bị cáo bị thương nhẹ nên đi vào nhà. Bị cáo bực tức rút ống dẫn xăng của xe 76U1-19148 bật lửa đốt làm xe cháy toàn bộ. Anh L và anh Th đang ngồi ở sân nhà thì nghe tiếng động và mùi khét ở ngoài đường nên ra xem. Anh L bảo cháu nhỏ đang chơi gần đó đi vào nhà. Bị cáo nghe và nghĩ anh L chửi mình nên lấy dao để trên xe đi về phía anh L nói “Thằng nào nói tao” bị cáo dùng chân đạp anh L nhưng không trúng anh L mà trúng xe mô tô 76B1-55930 làm xe ngã sang bên phải làm gãy, bể gương chiếu hậu bên phải; bị cáo cầm dao bằng tay trái chém 01 nhát trúng vào cánh tay trái của anh L, anh L bỏ chạy, bị cáo đuổi theo không kịp, quay lại chém vào vùng đồng hồ, cánh bửng và ốp thân xe bên trái gây hư hỏng. Sau đó bị cáo cầm dao ném xuống cầu K thuộc thôn L, xã T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định tài sản bị thiệt hại của anh L và Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận giá trị thiệt hại như sau: Xe mô tô biển kiểm soát 76B1-55930 nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen có 01 gương chiếu hậu bên phải bị bể vỡ, tài sản bị hư hỏng, trị giá 52.000 đồng; 01 nắp nhựa bảo vệ đồng hồ km/h bị bể vỡ trong diện kích thước (8x10) cm, tài sản bị hư hỏng, trị giá 55.000 đồng; 01ốp nhựa bao đồng hồ km/h ở phía trong dưới bị bể vỡ trong diện kích thước (8x10)cm, tài sản bị hư hỏng, trị giá 270.000 đồng; 01 cánh bửng bên trái bị nứt một đường nằm ngang dài 14cm và một đường nằm dọc dài 25cm, tài sản bị hư hỏng, trị giá 460.000 đồng; 01 ốp nhựa thân xe bên trái bị bể vỡ trong diện kích thước (45x23)cm, tài sản bị hư hỏng, trị giá 290.000 đồng, tổng cộng thiệt hại 1.127.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố đã tiến hành xem xét dấu vết thân thể anh Phạm Hoàng L, Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 284/Tgt ngày 08/12/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi kết luận: 01 sẹo cánh tay trái, tổn thương phù hợp vật sắc gây thương tích, căn cứ T1 tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 08/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với 01 gương chiếu bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 76B1-559.30 bị bể vỡ (đã được niêm phong trong bì thư có đóng dấu giáp lai của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi và có chữ ký của các ông Nguyễn Công Phúc, ông Trần Như Phong, ông Phạm Hoàng Linh) có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 Pt ngày 25/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

. Tại phiên tòa người làm chứng ông Lê Văn Th vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự các văn bản tố tụng cho ông. Xét thấy việc vắng mặt của ông Th không gây trở ngại việc giải quyết vụ án do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn khởi tố, truy tố vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng hơn 18 giờ ngày 24/11/2020, bị cáo đã dùng chân đạp ngã xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ đen biển kiểm soát 76B1-55930 làm ngã xe, bị cáo tiếp tục dùng dao chém vào vùng đồng hồ km/h, cánh bửng và ốp thân xe bên trái. Hậu quả xe bị hư hỏng tổng thiệt hại có giá trị là 1.127.000 đồng, trước đó ngày 19/5/2020 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” mà còn vi phạm nên bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 21/7/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 25/4/2018 nhưng chưa thi hành xong phần bồi thường dân sự cho bị hại nên chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo nhận thức được hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa chung tội phạm.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Phạm Văn L1 chiếc xe mô tô 76B1-55930 là phù hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo đang bị giam nên ông Nguyễn T1 đã nhận thay bị cáo khung chiếc xe mô tô đã bị cháy còn lại có gắn biển kiểm soát 76U1-19148 từ Cơ quan điều tra là phù hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Cần tịch thu và tiêu hủy đối với 01 gương chiếu bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 76B1-55930 bị bể vỡ (đã được niêm phong trong bì thư có đóng dấu giáp lai của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi và có chữ ký của các ông Nguyễn Công Pc, ông Trần Như Phong, ông Phạm Hoàng L) có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 con dao bị cáo dùng để làm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được nên không có cơ sở xử lý

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vị án đã tự thỏa thuận và thực hiện xong, không có yêu cầu gì thêm.

. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Kiểm sát viên đề nghị về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

. Ngày 01/12/2020 anh Phạm Hoàng L có đơn yêu cầu giám định và khởi tố vụ án hình sự “Cố ý gây thương tích”, ngày 14/12/2020 anh L có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Xét thấy việc rút yêu cầu của L là tự nguyện nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi không khởi tố vụ án hình sự nhưng xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

. Trong ngày 24/11/2020 bị cáo đã thực hiện hành vi đốt cháy xe mô tô biển kiểm soát 76U1-19148, chiếc xe này qua xác minh làm rõ có nguồn gốc là tài sản của ông Nguyễn T1 (cha bị cáo), năm 2019 ông T1 đã tặng cho bị cáo toàn quyền sử dụng nên bị cáo hủy hoại chiếc xe này không phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2020.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 gương chiếu bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 76B1-55930 bị bể vỡ (đã được niêm phong trong bì thư có đóng dấu giáp lai của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi và có chữ ký của các ông Nguyễn Công Phúc, ông Trần Như Phong, ông Phạm Hoàng Linh) có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 Pt ngày 25/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND TP Quảng Ngãi;

- CQCSĐT CATP Quảng Ngãi;

- CATP Quảng Ngãi (Bộ phận lưu trữ, NV);

- CQTHAHS CATP Quảng Ngãi;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- Chi cục THADS TP Quảng Ngãi;

Nguyễn Thị Thúy Ly

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, lưu án văn.

* Bị hại + TNDS:

Anh Phạm Hoàng L rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi “Cố ý gây thương tích”, CQCSĐT đã ban hành QĐ xử phạt VPHC với T về hành vi này. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông Phạm Văn L1 (cha L, chủ xe), ông L1 có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. và ngày 31/12/2020 bị Công an thành phố Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”;

* Đối với xe 76U1-19148, qua tra cứu của CQĐT là tài sản của ông Nguyễn T1 (cha bị cáo), ông T1 khai đã cho bị cáo đi làm vào năm 2010, khi cho có giao cà vẹt nhưng ko lập giấy tờ cho, bị cáo đốt xe ông ko có ý kiến gì, vì vậy hành vi bị cáo ko phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

* Căn cứ tội “Cố ý làm hư hỏng TS”: Gía trị thiệt hại dưới 2 tr nhưng ngày 19/5/2020 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chưa chấp hành (BL117)(điểm a K1 Đ 178) + Bị cáo khai mục đích cố ý làm hư hỏng xe anh L+ theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

* Vật chứng: CQĐT đã thu giữ:

- Khung xe bị cháy trả choT (ông T1 đã nhận)

- Xe của ông L1 (bị hại đi): đã trả cho ông L1

- 01 gương chiếu bị gãy: tịch thu, tiêu hủy

- Dao bị cáo sử dụng: Không tìm lại được, ko có co sở xử lý.

* Hành vi:

* Tình tiết tăng nặng: (Đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm rội do cố ý theo K1 Điều 53) điểm h khoản 1 Điều 52

* Tình tiết giảm nhẹ: (thành khẩn, khắc phục) điểm b, s k1 Điều 51

* Hình phạt: Điểm a k1 Điều 178

- Khi phạm tội bị cáo có say rượu + phạm tội bỏ đi khỏi địa phương đến ngày bị bắt + trước đó đã đến hội trường thôn CYLHHTS+

Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

.

Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 18/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Trần Thất Thuyết về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ đến tù , về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Đức Tính 01 ti vi nhãn hiệu TCL 43 inches màu đen bị vở, nứt màn hình, đã qua sử dụng do xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại Nguyễn Kim Anh đã tự nguyện thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm

* Trong quá trình điều tra xác định:

- Đoàn Việt Tân (nhóm Tịnh Long) bị Kim Anh đập vỏ chai bia DQ vào đầu bị rách da đầu khâu 4 mũi nhưng không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu Kim Anh bồi thường về thương tích (BL 125, 133)

- Nguyễn Tử Khánh (nhóm Tịnh Long) trong quá trình ném qua lại bị ném 1 vật trúng vào trán khâu 06 mũi, không biết ai gây ra nên không yêu cầu gì về bồi thường và giám định.

- Anh Nguyễn Đức Tính (chủ dàn Karaoke được chủ quan thuê cho khách hát): bị bể 1 góc vỏ ngoài 1 máy tính xác tay hiệu Dell; bị bể 1 tti vi TCL 43inches màn hình phẳng, anh Tính đã được nhóm Th niên Tịnh Long mua lại TV mới, không yêu cầu gì về laptop bị bể, ko yêu cầu gì về ds và HS (bl 298)

- Anh Nguyễn Ngọc Tân (chủ quán Tân Còi): bị bể vỡ một số chén, ly và bàn ghế nhưng đã được 2 nhóm đền bù ts hư hỏng nên ko yêu cầu hay khiếu nại gì về dân sự (BL 304)

- Anh Trần Anh (nhóm Tịnh Châu nhung sinh ra ở Tây Ninh, đăng ký thường trú Tây Ninh, hiện trú tại xã Tịnh Hòa): Khi chạy ra khỏi quán bị ngã, bị nhóm Tịnh Long (nhiều người) đánh từ phía sau vai, đầu, cổ, có đến bệnh viện khám, trình báo công an. Từ sau khi sự việc xảy ra theo BB xác minh của CA xã Tịnh Hòa thì anh Trần Anh không cư trú tại địa phương, không xác được nhân thân lai lịch, không có yêu cầu bồi thường vay giám định thương tích, CQĐT tiếp tục xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau

* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 rựa và 06 mảnh vỏ chai bia DQ

* Về hình phạt: TA-TS: không, nhân thân: đang bị điều tra truy tố về hành vi gây rối trật tự công cộng chưa xét xử, có 2tt giảm nhẹ k1 và k2 diều 51, ko có tăng nặng. Đề xuất từ 2,5 đến 3 năm tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của chị Bùi Thị Thư Diệu là ông Bùi Minh Thành và bà Nguyễn Thị Thu Sang; người làm chứng chị Võ Thị Như Tuyền vắng mặt không có lý do nhưng những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa ngày 26/8/2020 ông Thành, bà Sang có mặt và đã trình bày lời khai rõ ràng trước Hội đồng xét xử, không có yêu cầu gì. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự các văn bản tố tụng cho ông Thành và bà Sang, chị Tuyền nhưng họ vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại việc giải quyết vụ án do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa ngày 26/8/2020 bị cáo Đạt khai bị cáo có kinh doanh dịch vụ thăm quan vườn hoa Ánh Dương thuộc khu đô thị P Mỹ, việc kinh doanh có đăng ký và được sự cho phép của đơn vị quản lý khu đô thị nên bị cáo thuộc đối tượng vẫn được phép vào khu đô thị P Mỹ, bị cáo không có lỗi khi không chấp hành biển báo “Công trường đang thi công, không nhiệm vụ cấm vào” và rào chắn tại điểm đầu đoạn đường nội bộ khu đô thị P Mỹ thuộc tổ 7, phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời bị hại Nguyễn Đình Huy khai “khi bị hại đi qua ngã tư bị hại không quan sát, không giảm tốc độ, điều khiển xe đi thẳng qua ngã tư trên phần đường của xe ô tô thì xảy ra va chạm, bị hại bị té ngã bất tỉnh, chị Diệu bị thương nặng đưa đi cấp cứu thì chết” cần xác định bị hại Nguyễn Đình Huy có vi phạm các quy định về tham gia giao T1 đường bộ hay không để đánh giá khách quan vụ án nên Hội đồng xét xử đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng ngãi để điều tra bổ sung theo Quyết định số 14/2020/HSST-QĐ ngày 01/9/2020.

Ngày 24/9/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi có công văn số 607/VKS về việc chuyển hồ sơ để Tòa án xét xử sau khi đã điều tra bổ sung, làm rõ.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn Đạt đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn khởi tố, truy tố vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Gia đình bị cáo có kinh doanh dịch vụ (vườn hoa hướng dương) tại khu đô thị P Mỹ nhưng bên ngoài phạm vi cấm của Ban quản lý dự án nên bị cáo không phải đối tượng được đi vào Khu đô thị P Mỹ tại khu vực đã cấm. Khoảng 15 giờ ngày 03/02/2020, Phạm Văn Đạt có giấy phép lái xe hạng B2 còn trong thời gian quy định, điều khiển xe ô tô 36A-42987 của bị cáo lưu T1 trên đoạn đường nội bộ khu đô thị P Mỹ thuộc tổ 7, phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tại điểm đầu của đoạn đường này nơi giao nhau với Quốc lộ 1A (cách nơi xảy ra tai nạn khoảng 103m về phía tây) đơn vị chủ đầu tư khu đô thị P Mỹ có đặt rào chắn và biển báo hiệu tạm thời “Công trường đang thi công, không nhiệm vụ cấm vào” nhưng bị cáo không chấp hành biển báo nguy hiểm khi vào công trường đang thi công, đã điều khiển xe đi vào đoạn đường trên. Khi đến ngã tư giao nhau với đường nội bộ trong khu dân cư P Mỹ có phương Bắc- Nam, bị cáo không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không chú ý quan sát khi có chướng ngại vật phía trước nên bị cáo đã điều khiển xe chạy thẳng qua ngã tư. Hậu quả phía bên trái ô tô 36A-42987 của bị cáo đã đâm va vào bên phải xe mô tô 76Y1-9602 do anh Nguyễn Đình Huy điều khiển chở theo chị Bùi Thị Thư Diệu, làm anh Huy và chị Diệu ngã xuống đường và đều bị thương tích, chị Bùi Thị Thư Diệu bị đa chấn thương, chấn thương sọ não, rạn nứt xương nộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra hậu quả làm chị Diệu chết. Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo và bà Phạm Thị Tài (chủ sở hữu xe mô tô 76Y1-9602) không yêu cầu giám định giá trị tài sản, anh Huy không yêu cầu giám định thương tích. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 3 Điều 5 T1 tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao T1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao T1 đường bộ “Người điều khiển phương tiện tham gia giao T1 đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: …..3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận…”; điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao T1 đường bộ và đường sắt “Không chú ý quan sát gây tai nạn giao T1” nên có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T1 đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Đạt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bị hại Huy và người đại diện hợp pháp của bị hại Diệu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hậu quả xảy ra ngoài lỗi chính do bị cáo thì anh Nguyễn Đình Huy cũng có lỗi qua ngã tư không quan sát, không giảm tốc độ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Tính chất, mức độ của hành vi: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo có nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không tạo ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc cho bị cáo được hưởng án treo và bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa chung tội phạm.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo các giấy tờ, tài liệu của bị cáo bị thu giữ nhưng không phải là vật chứng vụ án gồm: 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0090273; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0001071008; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Phạm Văn Đạt; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 073132; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0258327 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo 01 khung xe ô tô 36A- 42987 (xe đã bị cháy) do xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị Tài 01 khung xe mô tô 76Y1- 9602 (xe đã bị cháy) do xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện xong, không có yêu cầu gì thêm.

. Về hành vi khi tham gia giao T1 của bị hại Nguyễn Đình Huy: Trong vụ án này anh Huy cũng có một phần lỗi là khi lưu T1 vào bên trong ngã tư đã thiếu quan sát, không giảm tốc độ dẫn đến bị xe ô tô do bị cáo điều khiển đâm trúng tuy nhiên lỗi của bị hại không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn làm cho chị Diệu bị thương tích dẫn đến chết. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Huy là có căn cứ, nhưng anh Huy cần rút kinh nghiệm và nghiêm túc chấp hành quy định pháp luật khi tham gia giao T1.

. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đạt phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T1 đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đạt 01 (Một) năm tù được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Phạm Văn Đạt cho Ủy ban nhân dân xã Định Tân, huyện Yên Định, tỉnh Th Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Văn Đạt cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn Đạt phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. * Nơi nhận:

Cỡ chữ