- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hiếu N và Bùi Thị Diễm H phạm tội “Cướp giật tài sản”. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Trần Hiếu N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2021/HS-ST Ngày: 09 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Doãn Đức Hùng và ông Nguyễn Huy Giáp.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng
Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐST-HS ngày 23/02/2021 đối với các bị cáo:
1. Trần Hiếu N, sinh ngày 28/02/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐKHKTT: Số nhà S129, đường A, khu phố B, phường C1, quận D, thành phố Đ; Nơi cư trú: Không ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo khai có cha là Hồ Ngọc C3, sinh năm: 1975 và con bà Trần Thị Kim C4 (đã chết); Bị cáo khai chung sống như vợ chồng với bị cáo Bùi Thị Diễm H và có 01 con sinh ngày 19/5/2020; Tiền án: Ngày 13/4/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2019; Tiền sự: Không; Bị giam giữ từ ngày 21/9/2020 đến nay. (Có mặt)
2. Bùi Thị Diễm H, sinh năm 1992 tại Vĩnh Long; ĐKHKTT: Ấp A1, xã B1, huyện D1, tỉnh Đ1; Tạm trú: Ấp A2, xã B2, huyện D2, tỉnh Đ2; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn G, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; Bị cáo khai chung sống như vợ chồng với bị cáo Trần Hiếu N và có 01 con sinh ngày 19/5/2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Dư Thị Kiều L, sinh năm 2002; Cư trú: Khu phố Tân Lập, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Lê Quốc C, sinh năm 1999. (vắng mặt)
2. Phạm Hồng S, sinh năm 2001. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hiếu N là đối tượng có 01 tiền án về tội: “Cướp giật tài sản”, sau khi ra tù N chung sống như vợ chồng với Bùi Thị Diễm H và có 01 con chung, sinh ngày 19/5/2020. Vào ngày 20/9/2020 N điều khiển xe mô tô hiệu Mio biển số 86B7-156.61 chở H cùng con đi từ Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh đến nhà bạn của H tại huyện Trảng Bom để mượn tiền. Khi đi đến đoạn đường 3 tháng 2 nối dài thuộc ấp Trà Cổ, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, thì N phát hiện chị Dư Thị Kiều L đang ngồi trên xe mô tô dựng ở lề đường theo hướng ngược lại đang sử dụng điện thoại di động Iphone 7Plus. Thấy vậy, N nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại di động của chị L nên đã nói cho H biết ý định cướp giật điện thoại, H đồng ý. Lúc này, N điều khiển xe mô tô quay ngược lại dừng đối diện với xe chị L cách khoảng 10 mét rồi tắt máy xe để quan sát. Sau khi quan sát xung quanh, N nói H giữ chặt, biết N chuẩn bị Cướp giật điện thoại di động của chị L nên H dùng tay trái ôm con, tay phải ôm chặt N để N nổ máy điều khiển xe đi đến áp sát bên trái xe của chị L đồng thời N dùng tay phải với sang bên trái giật điện thoại chị L đang cầm trên tay rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng Quốc lộ 1A. Bị giật điện thoại chị L tri hô thì người dân xung quanh nghe thấy đuổi theo N, trong lúc điều khiển xe bỏ chạy N cất điện thoại vừa cướp giật được vào túi quần rồi lấy súng điện tự chế để trong túi xách đeo trên người đưa cho H và hướng dẫn cho H bắn về phía những người truy đuổi nhưng không trúng ai. Khi đến đoạn đường thuộc tổ 5, khu phố 3, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, thì xe mô tô của N tự ngã xuống đường, H cùng con bị người dân bắt giữ cùng tang vật, còn N chạy bộ bỏ trốn. Đến khoảng 02 giờ 20 phút ngày 21/9/2020 N bị Công an xã Quảng Tiến trong lúc tuần tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 05/10/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 7Plus có trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 7Plus, 01 xe mô tô hiệu MIO biển số: 86B7-156.61, 01 súng điện tự chế, 01 điện thoại di động hiệu Itel.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel là tài sản của bị cáo N, bị cáo không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu MIO biển số: 86B7-156.61 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Bị cáo H khai mua xe mô tô trên tại cửa hàng mua bán xe cũ ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không nhớ tên cửa hàng và địa chỉ ở đâu, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Dư Thị Kiều L đã nhận lại 01 điện thoại Iphone 7 Plus và không có yêu cầu về phần dân sự trong vụ án này.
Tại bản cáo trạng số 22/CT/VKS-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Trần Hiếu N và Bùi Thị Diễm H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo N từ 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù; bị cáo H từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù;
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 súng điện tự chế.
3. Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 20/9/2020, tại đường 3 tháng 2 nối dài thuộc ấp Trà Cổ, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Hiếu N đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số: 86B7-156.61 chở bị cáo Bùi Thị Diễm H áp sát bên trái chị Dư Thị Kiều L đang ngồi sử dụng điện thoại trên xe mô tô dựng bên lề đường, bị cáo N đã dùng tay phải giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus trị giá 4.500.000 đồng của chị Dư Thị Kiều L và điều khiển xe mô tô bỏ chạy với lỗi cố ý trực tiếp. Ngoài ra, ngày 13/4/2016 bị cáo N đã bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý đến nay chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo N đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị Dư Thị Kiều L được pháp luật công nhận và bảo vệ. Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm song ở mức độ giản đơn, trong đó bị cáo N là người chuẩn bị công cụ, khởi xướng, rủ bị cáo H nên bị cáo N có vai trò cao hơn bị cáo H.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N là người có nhân thân xấu, bị cáo H không có tiền án, tiền sự; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H đang nuôi con nhỏ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Dư Thị Kiều L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 súng điện các bị cáo dùng làm công cụ phạm tội hiện đã bị hư hỏng và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
1.1 Tuyên bố bị cáo Trần Hiếu N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1.2 Xử phạt bị cáo Trần Hiếu N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2020.
2. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
2.1 Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Diễm H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2.2 Xử phạt bị cáo Bùi Thị Diễm H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành án phạt tù.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 súng điện, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/01/2021.
4. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Trần Hiếu N, Bùi Thị Diễm H mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai ; - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra H. Trảng Bom; - Bị cáo; bị hại; - THA, Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHAN - CHỦ TỌA PHIEN TOA Đinh Thị Bích Liễu |